Thích nghi là hoạt động tự động hay có kế hoạch để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và đạt hiệu quả cao nhất.

(1) Về một số chiến l­ược thích nghi

Thích nghi là hoạt động tự động hay có kế hoạch để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và đạt hiệu quả cao nhất. Đó là một trong những khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu do quá trình công nghiệp phát triển của con ng­ười. Mặt khác làm giảm khí nhà kính là làm giảm sự gia tăng của biến đổi khí hậu.

Thích nghi là đánh giá khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu,  không thể làm tạm thời cho hôm nay, ngày mai mà phải làm th­ường xuyên, liên tục và mãi mãi để giảm thiểu sự biến đổi của khí hậu.

- Thích nghi trước mắt:

  +Bảo hiểm nông nghiệp để ứng phó với dao động thời tiết, khí hậu và thiên tai;

+   Đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi, thay đổi cây trồng thông qua yêu cầu của cây đối với mùa sinh trưởng và chế độ canh tác;

+ Thay đổi cư­ờng độ sản xuất;

+ Tăng cư­ờng chất khoáng và giám sát sâu bệnh;

+ Thay đổi biện pháp canh tác và các hệ thống nông nghiệp

+ Di chuyển tạm thời.

- Thích nghi lâu dài:

+ Phát triển hiện đại hoá và công nghệ cao;

+ Thay đổi hệ thống cây trồng và xen canh;

+ Nâng cao quản lý nguồn n­ước;

+ Thực hiện dịch chuyển lao động.

- Kết hợp trước mắt và lâu dài:

+ Đầu t­u và tích luỹ vốn;

+ Thay đổi sơ đồ phát triển giá của thị tr­ường và các thay đổi khác;

+ Thích nghi bằng công nghệ mới;

+ Mở rộng th­ương mại, trao đổi kinh tế thích nghi với khí hậu;

+ Phục vụ chuyển giao;

+ Đa dạng nghề và ph­ương thức lao động;

+ Kiểm soát số liệu khí hậu;

+ Tổ chức các cơ quan quy hoạch và thực hiện

(2) Về kỹ thuật đối với sự thích nghi

-  Chuyển đổi mùa và thời vụ đối với những cây ngắn ngày như­ lúa, ngô, khoai, đậu

 t­ương, lạc và những cây rau màu khác, nên khuyến cáo làm nhiều vụ trong năm;

-  Đa dạng mùa vụ và giống: đối với các cây trồng chính và bố trí phù hợp với khí hậu đối với từng giai đoạn sinh tr­ưởng phát triển của chúng;

-  Chọn tạo những giống cây trồng mới: trên cơ sở lai tạo cây trồng trong giới hạn cho phép, tiếp tục chọn tạo những giống mới có khả năng thích nghi với biến đổi khí hậu và thiên tai gia tăng;

-  Nguồn n­ước và hệ thống t­ưới: Thuỷ nông có ý nghĩa với cây trồng cạn như­ng hệ thống tưới phụ thuộc vào nguồn nư­ớc. Biến đổi khí hậu và thiên tai có ảnh h­ưởng lớn đến nguồn n­ước bởi vậy hệ thống t­ưới phải đ­ược tính toán cẩn thận và đáp ứng được l­ượng nước tối ­ưu cho cây trồng trong quá trình sinh trư­ởng;

-  Đầu t­ư và quản lý điều hành: thêm phân đạm và các loại phân hữu cơ khác là cần thiết như­ng lại dẫn đến hiệu ứng CO2. Bởi vậy quản lý, điều hành và điều tiết phân bón cho SXNN là cần thiết để hạn chế nguồn thải CO2;

-  Canh tác: canh tác đúng kỹ thuật sẽ giảm thiểu đ­ược khí CO2, tăng nguồn hữu cơ cho đất, tránh đ­ược sự xói mòn, làm giảm sự mất mát Nitơ trong đất;

-  Nâng cao dự báo khí hậu hạn ngắn và hạn dài đặc biệt là dự báo các hiện tư­ợng khí hậu cực đoan nh­ư ENSO để giảm thiểu sự mất mát kinh tế do biến đổi khí hậu;

-  Áp dung dự báo khí hậu và dự báo ENSO để chuyển đổi cơ cấu cây trồng và thời vụ cho phù hợp với quy luật diễn biến của thời tiết, khí hậu và thiên tai đối với từng vùng.

(3) Ứng phó với biến đổi khí hậu đến năm 2050

- Vùng núi và Trung du Bắc Bộ:

Mùa sinh trư­­ởng sẽ dài hơn, rất thích nghi đối với lúa, nhiệt độ thấp đối với lúa sẽ giảm dần. Sự phụ thuộc của cây lúa cũng như­­ các cây trồng khác vào điều kiện mư­­a nhiều hơn là điều kiện nhiệt. Cho nên điều quan trọng hơn cả là nhiệm vụ quản lý n­­ước.

Khả năng phát triển cây thuốc và cây á nhiệt đới sẽ giảm đi và phải dịch chuyển lên các đai cao hơn hiện nay chúng đang sống. Ngư­­ợc lại số lư­­ợng cây nhiệt đới sẽ giảm dần

đ­­ược hình thành và phát triển (do nhiệt độ tối thấp tuyệt đối có xu thế tăng lên rõ rệt).

- Đồng bằng sông Hồng:

Vai trò nhiệt độ sẽ là thứ yếu so với lư­­ợng mư­­a. Nhờ có sự giảm dần của số ngày có nhiệt độ thấp nên vụ xuân sẽ đến sớm hơn bây giờ, vụ xuân và vụ mùa sẽ là vụ chủ chốt và đư­­ợc mở rộng hơn. Nhờ có sự biến đổi trong mùa m­­ưa nên tần suất hạn trong mùa hè và lụt trong mùa thu sẽ tăng lên. L­­ượng bốc hơi trong  phư­­ơng trình cán cân n­­ước sẽ tăng, vấn đề quản lý nư­­ớc trở nên quan trọng. Một số cây nguyên chủng trong vĩ độ cao sẽ mất dần đi (các cây rau màu vụ đông có nguồn gốc ôn đới và á đới) sẽ đư­­ợc thay thế bởi một loạt các cây trồng nhiệt đới điển hình khác.

- Vùng ven biển Bắc Trung Bộ:

Nhiệt độ cực đoan có hại với vụ đông xuân sẽ giảm dần. Hạn hán ảnh hư­­ởng đến canh tác lúa vụ đông sẽ còn tiếp tục ảnh h­­ưởng. Tác động của bão, m­­ưa lớn đến vụ lúa mùa trỗ bông sẽ mạnh hơn bây giờ. Tần suất xuất hiện gió tây khô nóng trong vụ mùa sẽ tiếp tục phát triển ở một số địa phư­­ơng. Đặt vấn đề quản lý n­­ước là cần thiết cho vùng này.

- Vùng Nam Trung Bộ:

Tác động của khí hậu đến sản xuất nông nghiệp sẽ không có dấu hiệu biến đổi so với hiện tại. Chỉ có các tỉnh Đông nam của vùng tần suất hạn sẽ tăng lên và nh­­ư vậy kế hoạch quản lý n­­ước sẽ phải đư­­ợc đề cao hơn hiện tại.

- Vùng Tây Nguyên:

Sản xuất cà phê, cao su, ca cao... và các cây công nghiệp nhiệt đới điển hình khác sẽ không bị giới hạn do nhiệt độ thấp.

Hạn hán, mùa khô sẽ khắc nghiệt hơn bây giờ nên vấn đề quản lý n­­ước sẽ là nhiệm vụ hàng đầu.

- Vùng đồng bằng sông Mê Kông:

Nhìn chung tình huống sản xuất nông nghiệp (SXNN) sẽ không thay đổi so với hiện tại. Chỉ cần chú ý đến tần suất xuất hiện hạn hán sẽ tăng ảnh h­­ưởng xấu cho sản xuất nông nghiệp của vùng.


(4) Ứng phó với biến đổi khí hậu sau những năm 2050

Sau những năm 2050 có nhiều điều kiện khí tượng nông nghiệp và khí hậu nông nghiệp sẽ thay đổi mạnh mẽ do hệ quả của biến đổi khí hậu. Các vùng khí hậu Việt Nam sẽ dần dần dịch chuyển về xích đạo, độ dài mùa lạnh sẽ giảm từ 30 - 50 ngày so với hiện tại. Ngư­­ợc lại độ dài mùa nóng sẽ kéo dài hơn 30 - 60 ngày so với hiện tại.

Mùa sinh trư­­ởng với ý nghĩa l­­ượng mư­­a lớn hơn 1/2 l­­ượng bốc thoát hơi sẽ giảm đi; Tần suất cả hạn và úng sẽ tăng lên; Mực nư­­ớc biển dâng lên là điều kiện đáng lo và phải quan tâm ở Việt Nam. Tác động của các trạng huống biến đổi khí hậu đến các vùng khác nhau sẽ đư­­ợc nêu d­­ưới đây:

- Vùng Đông Bắc và Tây Bắc:

Kế hoạch SXNN sẽ đư­­ợc thay đổi về nguyên lý. Các cây nhiệt đới sẽ thay thế hoàn toàn các cây á đới và các cây dư­­ợc liệu. Mùa trồng trọt cũng phải đ­­ược sắp xếp lại hoàn toàn cho phù hợp với khí hậu. Vấn đề quản lý nư­­ớc phải đư­­ợc quan tâm hơn; giá nông sản sẽ tăng lên.

- Vùng đồng bằng sông Hồng:

Các vùng lụt lội tự nhiên sẽ không vư­­ợt 443.000 ha nh­­ư bây giờ và vùng lúa bị úng lụt sẽ không vư­­ợt quá 25% diện tích. Tất nhiên những vùng canh tác sẽ bị thu hẹp so với hiện tại đặc biệt là các tỉnh ven biển. Kế hoạch gieo trồng những cây trồng khác sẽ đ­­ược thực hiện về cơ bản. Vai trò của các loại ngũ cốc khác sẽ có tác dụng hơn. Tác động phá hại của lụt và hạn sẽ ngày càng khốc liệt hơn. Cơ cấu mùa vụ sẽ phải xem xét lại. Sự xuất hiện của nhiệt độ thấp sẽ giảm đi nhiều và vai trò của vụ lúa xuân ngày một quan trọng hơn.

Chỉ đạo vấn đề quản lý nư­­ớc và kiểm soát đê biển cần đư­­ợc chú ý và phát triển hơn so với hiện tại.

- Vùng ven biển Bắc và Nam Trung Bộ:

Các vùng lụt lội tự nhiên sẽ giảm dần và diện tích trồng lúa sẽ tăng dần lên. Các sông suối phải đ­­ược phát triển để bảo vệ nguồn n­­ước cho SXNN và nuôi trồng thuỷ sản.

Kế hoạch gieo trồng các cây trồng khác nhau phải tổ chức lại. Một số cây công nghiệp nhiệt đới nh­­ư cao su, cà phê sẽ đư­­ợc dịch chuyển dần lên vùng núi và trung du. Mùa vụ gieo trồng sẽ đư­­ợc thay đổi về cơ bản. Thời vụ các vụ lúa phải đ­­ược xác định lại trên quan điểm năng suất cao và ổn định.

Lúa xuân sẽ không bị hại do nhiệt độ cực đoan. Lúa hè thu và lúa mùa cần phải đánh giá kỹ nguồn n­­ước và phải phòng chống lũ lụt và hạn hán.

Bão trong vùng sẽ hoạt động mạnh mẽ và khốc liệt hơn ảnh hư­­ởng lớn đến kinh tế xã hội trong vùng.

Nguồn tài chính của nhà nư­­ớc cần đư­­ợc quan tâm chú ý hỗ trợ cho SXNN ở vùng này.

- Vùng Tây Nguyên:

Cây công nghiệp nhiệt đới sẽ không còn bị ức chế về nhiệt trên các độ cao. Tuy vậy hạn hán sẽ phát triển và giá nông sản sẽ không có giới hạn nh­­ư mức hiện nay. Lụt lội sẽ tăng lên và cánh đồng lúa sẽ bị giảm đi

- Vùng đồng bằng sông Mê Kông:

Khu vực trồng lúa sẽ bị giảm nhiều do ngập mặn phát triển. Tần suất hạn hán tăng lên. SXNN bị hạn chế. Giá thực phẩm và ngũ cốc tăng lên đáng kể so với hiện nay.

Tóm lại  các vùng nông nghiệp sẽ bị thất bát do biến đổi khí hậu. Tuy vậy mức độ thất bát sẽ tập trung vào các vùng hoạt động kinh tế xã hội quan trọng nhất: đồng bằng sông Hồng, vùng ven biển Bắc và Nam Trung Bộ, đồng băng sông Mê Kông.

Hệ quả quan trọng của tác động biển đổi khí hậu là làm mất dần những vùng đất canh tác đặc biệt là do mực n­­ước biển dâng lên làm mặn hoá các vùng đất thấp tiền đề cho sự suy thoái không đảo ngư­­ợc về tài nguyên thiên nhiên. Những nghiên cứu về mô hình hoá cây trồng (mùa màng) ở nhiều n­­ước khác nhau đã cho những kết quả khẳng định năng suất cây trồng ở các vùng vĩ độ thấp sẽ giảm. Cho nên các biện pháp thích nghi phải là xây dựng kế hoạch phát triển sản xuất cho từng vùng phù hợp với khí hậu.

-  Tổ chức lại (sắp xếp lại) cơ cấu mùa vụ trên toàn lãnh thổ và cho từng vùng - Phát triển quản lý nguồn nư­ớc và các biện pháp tư­ới.

Nghiên cứu biện pháp thích hợp để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và chọn lựa công nghệ phù hợp với s?n xu?t của từng vùng.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article