Bộ Nông nghiệp và PTNT (2006) cho thấy có nhiều loài sâu, bệnh hại rừng. Tuy nhiên loài sâu róm thông xuất hiện khá phổ biến.

Bộ Nông nghiệp và PTNT (2006) cho thấy có nhiều loài sâu, bệnh hại rừng. Tuy nhiên loài sâu róm thông xuất hiện khá phổ biến. Số liệu thống kê năm 1937 cho thấy  sâu róm thông đã phá hoi mnh trên nhiều ngọn đi trồng thông thuc dy núi Nham Biền (Yên ng - Bắc Giang). m 1940, vùng y Bc bị dch châu chấu, o cào n p mi nh đồng a m cho người n phải đi nơi khác kiếm ăn. Tháng 8/1958 sâu thông phá hại nghiêm trọng Phú Nham, Phú Điền, Sơn Viện thuộc tnh Thanh Hoá, ăn trụi thông khoảng gn 100 ha. Năm 1958 1959 Bc Giang, sâu róm thông đã hại 160 ha rừng tng đuôi nga tại dãy i Neo, khu vực bến Đám thuc huyn Yên Dũng, sâu còn ăn c y con mới đem trồng được 2 năm, làm thit hại khá nhiu cho công c trồng rừng i đây. Từ năm 1959 - 1960 Nghệ An đã phát sinh nạn dịch sâu m thông rất lớn làm trụi 515 ha rng thông ln. Những năm gần đây c trận dch sâu xanh ăn lá b đề, ong ăn lá m, u đo ăn lá lim, u ăn muồng đen… tờng xảy ra, ăn trụi hàng nghìn ha rng.

c ta ng đã tng xảy ra các loại bệnh dịch nguy him như bệnh khô cành bạch đàn ở Đồng Nai làm cho 11.000 ha cây bị khô, ở Thừa Thiên Huế 500 ha, ở Quảng Trị trên 50 ha. Bệnh khô xám thông, bệnh rơm lá  thông, bệnh khô ngọn thông, bệnh thối cổ rễ thông, bệnh vàng lá sa mộc, bệnh khô cành cây phi lao, bệnh khô héo trẩu, bệnh chổi sể tre luồng, bệnh tua mực quế, bệnh sọc tím tre luồng… đã uy hiếp nghiêm trọng hàng ngàn ha rừng và ảnh hưởng đến sản xuất lâm nghiệp ở nước ta.

Cũng như các nước trên thế giới, việc phòng trừ sâu bệnh, nhất là chống dịch tại Việt Nam đã sử dụng nhiều loại thuốc hoá học, với liều lượng và nồng độ không kiểm soát được trong sản xuất nông, lâm  nghiệp. Trước mắt  đã  đáp  ứng yêu  cầu về phòng  trừ sâu,  bệnh. Nhưng nó cũng bộc lộ thiếu sót là gây nên sự rối loạn về sâu, bệnh hại rừng và tạo ra những đặc điểm mới của sâu bệnh hại rừng ở Việt Nam như:

  • Hình thành c chủng sâu, bệnh nhờn thuc, chống thuốc do tăng thêm nồng độ thuốc cho đến một lúc nào đó sâu hại tr n không n mẫn cảm vi loại thuốc đó na
  • Xuất hiện nhng loài sâu mi: những nơi đã sử dụng thuc bảo v thực vật phổ biến, ngưi ra thấy xuất hiện mt số những sâu hại mi. Trên y bông, trước đây mỗi vùng thường chỉ vài ba loài sâu hại quan trọng cần tiến nh phòng trừ, thì nay con số này đã lên tới 10 - 15 loài.
  • Gây ra hiện tượng tái phát u hại: Trong nhng năm đu, do tác dụng ca thuốc hoá học, mật  đ sâu hi giảm  đi. Nhưng trong  nhng năm tiếp theo,  mc dù  lưng thuốc sử dng nhiều n, nhưng mt đ sâu không những không giảm đi mà n tăng hơn tc do dùng thuc nhiu đã làm mất n bằng sinh học, các loài thiên dch ca sâu, bệnh đã bị tiêu diệt mt ợng lớn.

Các nhân tố ảnh hưởng đến sâu bệnh hại rừng bao gồm các nhân tố phi sinh vật và sinh vật. Các nhân t phi sinh vt nh hưng đến sâu, bnh y ch là các yếu tố khí tưng thủy văn và đất đai. Các nhân tố khí tượng gm nhiệt độ, đ m, ánh sáng, gió mưa… trong đó nhiệt độ, đ m là những yếu tố ch yếu.

  • Nhit đ đơn v nhiệt ng thay đổi theo ny đêm, các ngày trong tháng các ngày trong năm. Nhit đ mnh ởng đến sinh trưởng, phát dc của côn trùng (sâu hi) ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển cũng như khả năng hot động ca vt gây bệnh, không ch trên cây  mà ngay cả trong đất. y tng loi khác nhau chúng có phm vi ti thấp, tối thích và tối cao.
  • Đ m không khí và ợng mưa nh hưởng trực tiếp và gn tiếp đến sâu, bệnh. Hầu hết các loài vật gây bệnh cây yêu cầu đ m tương đối của không khí cao, thưng trên 80%. nước ta đ m cao thường vào mùa xuân hè thuận lợi cho bệnh phát sinh pt triển. Lượng mưa trong  năm hoc  trong tháng ý  nghĩa quan  trọng trong  vic tìm  hiu quy  luật sinh tng và phát triển của bnh y.
  • Gió  ảnh hưởng  đến s phân b và  hoạt  động của sâu,  bệnh. Gió giúp cho s di chuyển của côn trùng đi xa hơn; làm cho u tởng thành không hoạt đng được; sâu non rơi xuống khi tc độ gió lớn. Gió đưa bào t nấm đi xa đ lây lan. Hơn na, gió n nh hưng đến cân bng nhit, nưc trong th cũng nh hưng đến s phát sinh phát triển ca nm bệnh. Gió mnh m yếuy hoặc gãy đổ cây to điều kiện cho nm mục phá hoại.
  • Ánh sáng, đa số các loại bnh cây rừng thích hợp với ánh sáng tán x. Một số loi nm, bào t chỉ nẩy mm trong điu kin ánh sáng tán x. Đối với n trùng ánh sáng nh hưởng ch yếu về s tăng gim nhiệt  đ môi  trường  t đó tác  đng  đến sinh hoạt ca chúng.
  • Đt đai là mt hoàn cảnh sinh thái đặc biệt ca côn trùng. Nhiều loại côn trùng sống trong đất n dế, sâu non b hung, sâu non sâu m, trứng châu chấu. Một số sâu hoá nhộng trong  đất n ong ăn ,  ngài trời, ngài sâu đo.  Các loài trong đt cũng chọn loại đt khác nhau như châu chấu tre thích đất sâu, cứng vừa khai hoang, sâu non bọ hung thích i đt tơi xốp, sâu xám li thích i đt thịt.

Bên cạnh đó, các yếu tố sinh vật cũng có những ảnh hưởng quan trọng tới sự sinh trưởng và phát sinh dịch bệnh của các loài sâu bệnh hại rừng. Thực vật là thc ăn của côn trùng (sâu hi), thành phần thc vật quyết định thành phần và s phân bố sâu hi. Thức ăn thích hp thì sự phát trin của côn trùng nhanh, lưng chết ít, pha trưởng  thành phát dục tt sc sinh sn mnh. Ví  d loại u m (Agrotis segetum Schiff) ăn cây rau muối (Chenopodium album L.) y thích hợp thì thời gian phát dục t 40- 43 ngày. Nếu ăn y khác thì phải kéo dài ti 90 ngày. Hoặc như loài sâu khoang hại b đ Yên Bái, nếu thức ăn tt khi lượng mt con nhộng nng nh quân 0,708 gr ± 0,03. Khi thức ăn m khối lượng nhộng trung bình ch còn 0,65 gr.

rng hn giao khác tuổi t s loài sâu nhiều, nhưng số ợng cá th trong từng loài li ít. Ngưc li, trong rừng thuần loại, số loài u ít nhưng s cá thể trong loài lại nhiều và dịch sâu thường xảy ra. Những khu rừng sau khi b cháy xuất hiện nhiều loài sâu đc thân như sâu đinh, xén tóc, mt...

Thực vật còn là y ch quyết định kh năng xâm nhim ca vật gây bnh. Tuổi y, loài cây, các bộ phận của y đều tính kháng bệnh hoc nhim bệnh vậy chúng có tác dụng làm thay đổi quá trình xâm nhim ca bnh. Các loài sinh yêu cu dinh dưng cao tkhả năng chn lọc y chủ rt c nhân tố ca y chủ rt quan trọng. loài ch gây bệnh y y mà không y bệnh y khác. Có loài ch gây bệnh mà không gây bệnh ở các bộ phn khác. Nhưng cũng loài gây bệnh lá, cành non lẫn quả…

Tóm lại, trong tất cả các nhân tố, môi tờng phi sinh vật sinh vật, mỗi một yếu tố không tác động riêng lẻ và đến từng cá thể sâu, từng loại bệnh. Mà các yếu tố sinh thái hợp thành tổng thể, chi phối lẫn nhau, liên quan chặt chẽ với nhau cùng tác động đến quần thể sâu bệnh. Tuy  nhiên, trong  một thời điểm nhất định một hoàn  cảnh nhất định và  một địa điểm nhất định sẽ có nhân tố đóng vai trò chủ đạo.

Xem xét tác động của BĐKH đến nguy cơ sâu bệnh hại là một vấn đề khó và rất phức tạp. Hơn nữa các nghiên cứu cơ bản và hoàn thiện về các đặc điểm sinh thái, sinh trưởng và sinh sản của các loài sâu bệnh hại ở Việt Nam là không nhiều (thiếu các số liệu nghiên cứu cơ bản). Đến nay mới chỉ có 1 công trình nghiên cứ về tác động tiềm tàng của BĐKH đến nguy cơ sâu róm thông ở khu vực Bắc Trung bộ.  Đây là khu vực đại diện cho vùng rừng trồng Thông đuôi ngựa.

Sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker) là loài sâu nguy hiểm nhất đối với rừng trồng thông đuôi ngựa và thông nhựa. Bắc Trung Bộ là nơi thường xuyên có dịch xảy ra đặc biệt là ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh… thiệt hại do sâu róm thông gây ra khá lớn. Trong những năm gần đây, sự thay đổi của khí hậu toàn cầu đã dẫn đến thiên tai dịch bệnh ngày càng gia tăng, vậy sự biến đổi khí hậu đặc biệt là nhiệt độ trái đất ngày càng tăng có làm tăng nguy cơ sâu bệnh hại hay không? Để đánh giá ảnh hưởng đó nghiên cứu đã tiến hành phân tích các chỉ tiêu sinh trưởng của loài sâu róm thông là loài sâu hại nguy hiểm cho vùng Bắc Trung Bộ. Kết quả đánh giá nguy cơ sâu róm thông ở vùng Bắc Trung bộ như sau (Vũ Tấn Phương và cs, 2008):

  • Với sự BĐKH,  điều kiện khí hậu được coi là khá thuận lợi cho sự phát triển của sâu róm thông. Sâu róm thông sẽ sinh trưởng mạnh mẽ và dễ phát sinh dịch bệnh hơn. Nguy cơ sâu róm thông sẽ tăng khoảng 10% vào năm 2020, khoảng 13% vào năm 2050 và đặc biệt vào năm 2100 nguy cơ phát triển sâu róm thông tăng khoảng 31% so với năm 2000.
  • Trên thực tế ở các loài bao giờ cũng có tính chọn lọc tự nhiên, với điều kiện bất lợi một số cá thể không có khả năng kháng lại sẽ bị đào thải, còn những cá thể còn tồn tại sẽ hình thành khả năng thích nghi với các điều kiện bất lợi đó và di truyền cho các thế hệ sau. Ban đầu sự thay đổi của khí hậu sẽ làm cho khả năng sinh trưởng của sâu róm thông chưa cao, sau một thời gian chúng sẽ dần hình thành tính thích nghi với nhiệt độ tăng dần. Nếu theo chiều hướng phát triển như trên thì chắc chắn nguy cơ về sâu róm thông sẽ khó có thể kiểm soát được.
Với sự thay đổi của khí hậu toàn cầu như vậy không những làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người mà còn ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Do nguy những nguy cơ về thiên tai dịch bệnh, với phương pháp nội suy về sự thay đổi về khí hậu có thể thấy. Nếu con người không có những biện pháp tích cực tác động đến việc bảo vệ về môi trường thì các vấn nạn về sâu bệnh sẽ ngày càng gia tăng, đặc biệt là vùng Bắc trung bộ là nơi có nguy cơ tiềm ẩn từ trước với nhiều lần phát sinh dịch đã được kiểm chứng.
Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article