Khác với hệ sinh thái rừng tự nhiên, các loài cây rừng trồng chủ yếu ở Việt Nam có khá đầy đủ các thông tin liên quan đến nhu cầu sinh thái của loài, sinh trưởng, phạm vi phân bố vv…điều này có thể do rừng trồng không có những quan hệ phức tạp về mặt sinh thái, ảnh hưởng qua lại giữa các loài…của các cá thể và quần thể trong rừng tự nhiên.

Khác với hệ sinh thái rừng tự nhiên, các loài cây rừng trồng chủ yếu ở Việt Nam có khá đầy đủ các thông tin liên quan đến nhu cầu sinh thái của loài, sinh trưởng, phạm vi phân bố vv…điều này có thể do rừng trồng không có những quan hệ phức tạp về mặt sinh thái, ảnh hưởng qua lại giữa các loài…của các cá thể và quần thể trong rừng tự  nhiên.

Tuy nhiên cũng giống như các hệ sinh thái rừng tự nhiên, nghiên cứu xác định vùng trồng rừng thích hợp do biến đổi khí hậu cho rừng trồng còn rất hạn chế. Vũ Tấn Phương và cộng sự năm 2008 đã lựa chọn và tiến hành đánh giá mức độ thích hợp của 2 loài cây Lát hoa (Churkasia talbularis) và Thông nhựa (Pinus merkusii) dưới tác động của BĐKH. Tác giả dựa vào đặc điểm sinh thái của loài và kịch bản BĐKH để đánh giá tác động của nó. Dựa trên phần mềm MAPINFO tác giá đã xác định các vùng thích hợp theo kịch bản BĐKH. Một số kết quả chính được tóm tắt như sau:

1. Đối với Lát hoa:

Lát hoa là loài cây bản địa có giá trị kinh tế khá cao, phân bố chủ yếu ở miền Bắc. Vùng thích hợp với Lát hoa ở năm 2000 là khoảng 1 triệu ha, chiếm khoảng 3,11% tổng diện tích tự nhiên. Tuy nhiên tác động của BĐKH sẽ gây ra những tác động mạnh mẽ đến vùng thích hợp của loài cây này. Các đánh giá cụ thể vào các năm 2020, 2050 và 2100 như sau (Vũ Tấn Phương và cs, 2008):

  • Theo kịch bản của năm 2020, diện tích khu phân bố của Lát hoa tăng lên đáng kể. Diện tích phù hợp với Lát hoá chiếm khoảng 3,6% tương ứng với 1,2 triệu ha. Phân bố của Lát hoa không còn xuất hiện ở khu vực Tây Bắc và các tỉnh khu vực Trung tâm đồng bằng Bắc Bộ. Thay vào đó nó có thể phân bố chủ yếu ở khu vực Đông Bắc (Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai…..) và một phần diện tích nhỏ ở tỉnh Thanh Hóa và Hòa Bình.
  • Với kịch bản BĐKH cho năm 2050, diện tích khu vực phân bố của Lát hoa giảm đi đáng kể. Diện tích còn lại chiếm khoảng 2% tổng diện tích tự nhiên, tương ứng với 0,7 triệu ha (giảm 1,11% so với diện tích hiện tại). Diện tích khu phân bố không nằm rải rác như trước mà tập trung chủ yếu ở khu vực các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, sát biên giới Việt – Trung, xu hướng mất dần khu phân bố của Lát hoa là khá rõ nét.
  • Với kịch bản BĐKH cho năm 2100, khí hậu có thể rất khắc nghiệt. Nhiệt độ trung bình năm tăng lên đáng kể, từ 1,6 – 2,6OC và lượng mưa tăng 1,4 – 7,9%. Tác động của sự thay đổi lượng mưa và nhiệt độ lên phân bố và diện tích của Lát hoa là rõ nét nhất. Khu vực phân bố của Lát hoa còn lại khá nhỏ và không tập trung. Diện tích còn lại nằm chủ yếu tại tỉnh Hà Giang và có thể là cả Cao Bằng. Diện tích còn lại chỉ còn khoảng 0,73% tổng diện tích tự nhiên, tương đương với khoảng 0,2 triệu ha.

2. Đối với Thông nhựa:

Ở Việt Nam, Thông nhựa hiện được trồng ở những vùng đồi thấp ven biển, chủ yếu ở các tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ. Với điều kiện khí hậu hịên tại (năm 2000) thì diện tích phù hợp với Thông nhựa là khoảng 5,4 triệu ha, chiếm khoảng 16% tổng diện tích tự nhiên. Tác động của BĐKH đến vùng thích hợp cho Thông nhựa là khá rõ nét (Vũ Tấn Phương và cs, 2008), cụ thể là:

  • Vào năm 2020, phân bố và diện tích của Thông nhựa có thể thay đổi khi lượng mưa và nhiệt độ tăng lên. Khu vực phân bố được mở rộng ra phía Bắc và diện tích thích hợp với Thông nhựa có thể lên tới 17,13%, tương ứng 5,8 triệu ha (hiện tại năm 2000 là 5,4 triệu ha).
  • Theo kịch bản năm 2050, xu hướng chung là diện tích khu vực phân bố của Thông nhựa bị giảm đi nhanh chóng. Các diện tích phân bố ở khu vực Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên dần biến mất và có một phần diện tích nhỏ dịch chuyển lên phía Bắc. Diện tích thích hợp với Thông nhựa chiếm khoảng 12,61% tổng diện tích tự nhiên, tương đương 4,2 triệu ha.
  • Theo kịch bản năm 2100, nhiệt độ trung bình năm và lượng mưa tăng lên lần lượt là 1,6 - 2,6OC và từ 1,4 – 7,9% thì diện tích khu phân bố của Thông nhựa giảm đi đáng kể. Diện tích thích hợp với Thông nhựa chiếm khoảng 6,96% tổng diện tích tự nhiên, tương đương với 2,3 triệu ha. Khu vực phân bố chính là một số tỉnh ở phía Bắc và rải rác ở khu vực Nam Trung Bộ.
Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article