Nghiên cứu về vấn đề này còn rất hạn chế cả trên phương diện quốc tế và trong nước. Hầu hết các đánh giá mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận định của chuyên gia và một vài quốc gia đã sử dụng phương pháp mô hình hóa.

Nghiên cứu về vấn đề này còn rất hạn chế cả trên phương diện quốc tế và trong nước. Hầu hết các đánh giá mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận định của chuyên gia và một vài quốc gia đã sử dụng phương pháp mô hình hóa. Đánh giá của IPCC năm 2007 cho rằng các hệ sinh thái rừng tự nhiên sẽ bị tác động bởi BĐKH. Đó là sự thay đổi ranh giới các kiểu rừng và phân bố. Xu hướng chung là có sự dịch chuyển một số loài cây họ dầu ra phía Bắc do sự ấm lên của nhiệt độ.

Ở Việt Nam mới chỉ có đánh giá sơ bộ về tính dễ bị tổn thương trong lâm nghiệp. Nghiên cứu này sử dụng Chương trình bản đồ khí hậu Việt Nam do Trevor H. Booth xây dựng năm 1996 để đánh giá những biến đổi về ranh giới của 3 kiểu rừng tự nhiên quan trọng và có đủ cơ sở dữ liệu để chạy mô hình là: kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới và rừng thưa cây họ dầu (Vũ Tấn Phương và cs, 2008).

Về bản chất phương pháp đánh giá này dựa trên các nhu cầu sinh thái của từng kiểu rừng và các kịch bản BĐKH được công bố (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009). Các nhân tố khí hậu xem xét khi đánh giá bao gồm:

  • Lượng mưa bình quân năm (mm/năm)
  • Chế độ mưa
  • Các tháng mùa khô (tháng)
  • Nhiệt độ tối cao của tháng nóng nhất (OC)
  • Nhiệt độ tối thấp của tháng lạnh nhất (OC)
  • Nhịêt dộ trung bình năm (OC)

Kết quả đánh giá về sự thay đổi ranh giới của kiểu rừng khộp, rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đối và rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới được tổng hợp ở  bảng 4 (Vũ Tấn Phương và cs, 2008). Trên cơ sở nghiên cứu, tác giả đã đưa ra một số nhận định sau về sự thay đổi ranh giới và diện tích của 3 hệ sinh thái rừng đặc trưng này theo các kịch bán BĐKH vào năm 2020, 2050 và 2100 như sau:

1. Đối với kiểu rừng khộp:

Nếu BĐKH xảy ra như kịch bản công bố, rừng khộp sẽ không còn là vùng “đặc hữu” của Tây Nguyên nữa. Kiểu rừng này có thể sẽ mở rộng phạm vi phân bố ra phía Bắc. Diện tích rừng khộp ở một số tỉnh Nam Trung Bộ sẽ gần như biến mất toàn bộ và chỉ còn phân bố ở 2 khu vực chính là các tỉnh Tây Nguyên và ở một số tỉnh phía Bắc như Thanh Hóa, Quảng Ninh, Hòa Bình. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy phân bố và diện tích của rừng khộp sẽ chịu tác động theo mỗi kịch bản biến đổi khí hậu. Phân bố của hệ sinh thái rừng này sẽ giảm đi đáng kể nếu BĐKH diễn ra gay gắt hơn. Cụ thể là:

  • Theo kịch bản BĐKH vào năm 2020, nhiệt độ trung bình năm tăng thêm từ 0,3 – 0,5OC và lượng mưa tăng khoảng 0,3 – 1,4%, thì diện tích rừng khộp vào năm 2020 có xu hướng tăng lên đáng kể, chiếm khoảng 4,6% diện tích toàn quốc (so với 1,17% tại năm 2000) tương đương với 1.540.000 ha. Một số tỉnh phía Bắc sẽ có điều kiện thời tiết giống với một số tỉnh Tây Nguyên có rừng khộp, biên độ nhiệt giữa các tháng và các mùa trong năm không còn lớn nữa, số tháng mùa khô trong năm có thể tăng lên, sự phân chia mùa khô và mùa mưa sẽ rõ ràng hơn.
  • Theo kịch BĐKH vào năm 2050, nhiệt độ trung bình năm tăng thêm từ 0,8 – 1,0OC và lượng mưa tăng thêm từ 0,8 – 4,1%), thì diện tích rừng khộp có thể trở lại khu vực phân bố nguyên sinh của nó. Trong điều kiện này, miền Bắc sẽ không có khí hậu phù hợp với rừng khộp và do đó rất khó có sự xuất hiện của rừng khộp ở vùng này. Tổng diện tích rừng khộp trên toàn quốc sẽ giảm đi đáng kể, ước tỉnh rừng khộp chiếm khoảng 1,5%, tương đương với khoảng 500.000 ha. Tây Nguyên vẫn là nơi phân bố tập trung và chủ yếu của rừng khộp nhưng các diện tích này có xu hướng bị thu hẹp nhanh chóng.
  • Theo kịch bản BĐKH vào năm 2100, nhiệt độ trung bình năm tăng thêm từ 1,6 - 2,6OC và lượng mưa tăng thêm từ 1,5 - 7,9% thì hệ sinh thái rừng khộp có thể sẽ lại phân bố ở 2 khu vực miền Bắc và miền Nam. Diện tích và khu phân bố bị thu hẹp đáng kể và ở khu vực Tây Nguyên là nơi phân bố chính của rừng khộp hiện nay sẽ còn lại một diện tích rất nhỏ và đặc biệt có nguy cơ biến mất khỏi khu vực phân bố nếu như biến đổi khí hậu diễn ra phức tạp hơn. Tổng diện tích rừng khộp còn lại chỉ xấp xỉ 300.000 ha, tức gần 1% (so với 1,17% hiện nay) diện tích toàn quốc.

Bảng 1. Ước tính thay đổi diện tích các loại rừng theo các kịch bản BĐKH

Loại rừng

Hiện tại (2000)

Năm 2020

Năm 2050

Năm 2100

ha

%

ha

%

ha

%

ha

%

Rừng khộp

375.000

1,17

1.544.154

4,6

504.000

1,5

302.400

0,9

Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

1.210.900

3,6

1.492.283

4,44

1.492.283

4,44

651.480

1,94

Rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới

3.827.040

11,39

2.251.200

6,7

1.307.040

3,89

1.179.360

3,51

2. Đối với hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới:

Tác động của BĐKH về sự thay đổi ranh giới của kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới cũng rất rõ nét. Các khả năng thay đổi về kiểu rừng này bao gồm (Vũ Tấn Phương và cs, 2008):

  • Năm 2020, với kịch bản là nhiệt độ trung bình năm tăng thêm từ 0,3 – 0,5OC và lượng mưa tăng thêm từ 0,3 – 1,4% thì phân bố kiểu rừng này sẽ bị thay đổi. Một diện tích khá lớn sẽ xuất hiện ở khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ và tổng diện tích của kiểu rừng này sẽ tăng lên. Cụ thể, diện tích của kiểu rừng này có thể chiếm khoảng 4,44% diện tích tự nhiên toàn quốc, tương ứng với khoảng 1,5 triệu ha (so với 1,2 triệu ha tại năm 2000).
  • Năm 2050, với kịch bản nhiệt độ trung bình năm tăng thêm từ 0,8 – 1,0OC và lượng mưa tăng thêm từ 0,8 – 4,1% thì phân bố và diện tích của kiểu rừng này cũng có những thay đổi giống với kịch bản của năm 2020. Tức là so với hiện tại (năm 2000) thì diện tích sẽ tăng thêm 4,44% và phân bố sẽ mở rộng vào phía Nam. Phần diện tích ở khu vực Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ gia tăng không đáng kể. Tuy nhiên có một phần diện tích khá lớn của hệ sinh thái này mở rộng xuống khu vực Nam Bộ.
  • Vào năm 2100, trong điều kiện có sự thay đổi lớn hơn và khắc nghiệt hơn về nhiệt độ và lượng mưa, cụ thể là nhiệt độ trung bình năm tăng từ 1,6 – 2,6OC và lượng mưa tăng thêm từ 1,5 – 7,9% thì phân bố và diện tích của rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới bị giảm đi đáng kể ở cả 2 khu vực phân bố của nó là Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Theo kịch bản này, tổng diện tích của hệ sinh thái này ở năm 2100 chỉ còn khoảng 650 nghìn ha, chiếm khoảng 1,9% diện tích toàn quốc (so với 3,6% năm 2000).

3. Đối với kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới:

Hệ sinh thái rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới hiện tại (năm 2000) có diện tích khoảng 3,83 triệu ha, chiếm khoảng 11,4% diện tích toàn quốc. Kiểu rừng này phân bố khá rộng từ Bắc Trung Bộ tới miền Đông Nam Bộ. Trong 3 kiểu trạng thái rừng nghiên cứu, hệ sinh thái rừng kín rụng lá ẩm nhiệt đới có thể sẽ bị ảnh hưởng mạnh mẽ nhất theo các kịch bản khí hậu, đó là ranh giới và diện tích của nó không ngừng giảm ở tất cả các khu vực theo xu hướng tăng dần của nhiệt độ và lượng mưa. Cụ thể là:

  • Theo kịch bản BĐKH, vào năm 2020 nhiệt độ trung bình năm tăng thêm từ 0,3 – 0,5OC và lượng mưa tăng thêm từ 0,3 – 1,4%, thì diện tích loại rừng này có thể giảm xuống khoảng 2,25 triệu ha tương ứng với tỷ lệ che phủ 6,7% diện tích toàn quốc. Khu vực phân bố suy giảm nghiêm trọng ở vùng Bắc Trung Bộ và không suy giảm rất ít ở khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Kết quả này cho thấy với sự thay đổi về nhiệt độ và lượng mưa trung bình năm ở mức vừa phải thì diện tích của hệ sinh thái này đã có những thay đổi rất lớn ở vùng Bắc Trung Bộ. Diện tích phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của hệ sinh thái này giảm đi đáng kể (còn khoảng 1/2 diện tích so với thời điểm hiện tại).
  • Năm 2050, với kịch bản nhiệt độ trung bình năm tăng thêm từ 0,8 – 1,0OC và lượng mưa tăng thêm từ 0,8 – 4,1% thì diện tích của kiểu rừng này cũng giảm xuống đi đáng kể ở khu vực phân bố của chúng. Tổng diện tích ước tính chỉ còn khoảng 1,3 triệu ha tương đương với độ che phủ 3,89% diện tích tự nhiên (so với 11,4% hiện tại) . Phân bố của kiểu rừng này cũng có thay đổi, diện tích ở khu vực Bắc Trung Bộ dần biến mất và khu vực phân bố chủ yếu của nó là ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
  • Với kịch bản BĐKH năm 2100, nhiệt độ trung bình tăng thêm từ 1,6 – 2,6OC và lượng mưa tăng từ 1,5 - 7,9% thì diện tích của kiểu rừng này vẫn giảm so với hiện tại, nhưng mức giảm không đáng kể so với kịch bản của năm 2050. Cụ thể, tổng diện tích còn lại khoảng 1,2 triệu ha với độ che phủ khoảng 3,51% tổng diện tích tự nhiên; so với năm 2050 thì diện tích giảm đi khoảng 100 nghìn ha, điều này chứng tỏ những diện tích còn lại có mức độ phù hợp cao và đáp ứng được các nhu cầu sinh thái của kiểu rừng này trong điều kiện nhiệt độ và lượng mưa tăng lên khá cao. Phân bố của nó cũng không có sự thay đổi đáng kể, khu vực phân bố chủ yếu vẫn là Tây Nguyên và Nam Trung Bộ.
Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article