Hệ sinh thái rừng tự nhiên chiếm khoảng 30% diện tích bề mặt trái đất, khoảng 3,9 tỷ ha (FAO, 2000). Trong một vài thập niên tới, BĐKH sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới sinh thái rừng trên toàn thế giới, đặc biệt là ở châu Á, nơi mà diện tích rừng, nhất là rừng nhiệt đới bị thu hẹp ở mức báo động.

Hệ sinh thái rừng tự nhiên chiếm khoảng 30% diện tích bề mặt trái đất, khoảng 3,9 tỷ ha (FAO, 2000). Trong một vài thập niên tới, BĐKH sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới sinh thái rừng trên toàn thế giới, đặc biệt là ở châu Á, nơi mà diện tích rừng, nhất là rừng nhiệt đới bị thu hẹp ở mức báo động. Thảm thực vật rừng là sản phẩm của sự tương tác và tiến hóa qua hàng triệu năm giữa các yếu tố của tự nhiên, trong đó khí hậu đóng vai trò chủ đạo. BĐKH với sự tăng nhiệt độ không khí, thay đổi lượng mưa và mực nước biển dâng cao sẽ làm cho thảm thực vật rừng và hệ sinh thái rừng theo nhiều chiều hướng khác nhau. Những biến đổi này có thể là: ranh giới giữa các loại rừng thay đổi. Ở khu vực bắc Châu Á, rừng có thể dịch chuyển mở rộng lên phía Bắc; một số loài cây sẽ không thích nghi kịp sẽ bị tuyệt chủng dẫn đến sự suy giảm các hệ sinh thái động thực vật; một số loài có thể phải tự thích nghi với môi trường khắc nghiệt, mực nước biển dâng sẽ làm thu hẹp ranh giới một số loại rừng ngập mặn; và các nguy cơ về cháy rừng và phán tán sâu bệnh hại có xu hướng gia tăng.

Việt nam nằm ở khu vực Đông Nam Á và là một trong những quốc gia chịu  ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu gây ra (Ngân hàng Thế giới, 2008). Theo dõi diễn biến của hiện tượng El Nino cho thấy, năm 1997 – 1998 hiện tượng này đã làm cho nền kinh tế thế giới thiệt hại khoảng 34 tỷ USD, làm chết 24.000 người. Tại khu vực Đông Nam Á, El Nino đã gây hạn hán gay gắt; riêng tại Việt Nam El Nino gây hạn hán nghiêm trọng cho các tỉnh thuộc Tây Nguyên, Nam Bộ với thiệt hại trên 312 triệu USD. Ở Trung Bộ, những năm có La Nina, số lượng các trận lũ tăng 1,4 lần so với trung bình. Trong các đợt El Nino mạnh, hạn hán đông xuân thường xảy ra nghiêm trọng trên diện rộng cả 3 miền.

Báo cáo của Bộ NN&PTNT về “Tác động của biến đổi khí hậu đến nông nghiệp, nông thôn và định hướng hành động của ngành NN&PTNT” tại hội thảo “Hướng tới Chương trình hành động của ngành Nông nghiệp & Phát triển nông thôn nhằm giảm thiểu và thích ứng với Biến đổi khí hậu” cho thấy, trong 10 năm gần đây, hạn hán đã hoành hành gây hậu quả nặng nề đối với sản xuất nông lâm nghiệp của nhiều địa phương, đặc biệt là miền Trung và Tây Nguyên, theo số liệu thống kê các tỉnh, đợt hạn từ cuối năm 1997 đến tháng 4/1998, thiêt hại của các tỉnh miền Trung tính riêng lĩnh vực lâm nghiệp đã lên tới 1.400 tỷ đồng. Ngoài ra, các chi phí cho phòng chống hạn cuối năm 1997 và năm 1998 là gần 1.000 tỷ đồng. Trong 5 năm gần đây, các tỉnh đồng bằng sông Hồng liên tục phải đối phó với tình trạng hạn hán gay gắt trong vụ đông xuân do mực nước sông Hồng liên tục xuống thấp dưới mức lịch sử trong vòng 100 năm qua.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng thiệt hại do thiên tai, chủ yếu là do sạt lở đất, mưa to và bão lũ gây ra ở 50 tỉnh, thành phố trên cả nước trong năm 2007 ước tính lên tới trên 11.600 tỷ đồng, bằng khoảng 1% GDP. Thiên tai đã làm 435 người chết, mất tích; làm ngập và hư hại 113.000 héc ta lúa; phá hủy trên 1.300 công trình đập, cống, làm sạt lở và cuốn trôi hơn 1.500 km đê và kênh mương; làm hơn 7.800 ngôi nhà và phòng họp bị sập đổ. Do ảnh hưởng nặng nề của thiên tai nên tình trạng thiếu đói vẫn xảy ra ở những vùng thiên tai. Năm 2007, cả nước có 723.900 lượt hộ với 3.034.500 lượt nhân khẩu bị thiếu đói. Để khắc phục hậu quả và ổn định cuộc sống người dân vùng bão lũ. Chính phủ phải huy động quỹ dự phòng cứu trợ cho các địa phương bị thiệt hại khoảng 2.500 tỷ đồng và 37.400 tấn gạo. Ngoài ra, các địa phương này còn nhận được sự hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước với tổng số tiền hơn 880 tỷ đồng, 11.100 tấn gạo cùng một khối lượng lớn các nhu yếu phẩm khác. Các con số thống kê trên là một minh chứng rất rõ nét về những ảnh hưởng do biến đổi khí hậu gây nên cho cộng đồng quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng.

Bộ Tài nguyên môi trường (2003) đã đưa ra Thông báo Quốc gia lần thứ nhất và thông báo quốc gia lần 2 của Việt Nam về BĐKH vào cuối năm 2010. Các báo cáo đã chỉ ra rằng việc gia tăng nhiệt độ toàn cầu, sự thay đổi lượng mưa và mực nước biển dâng có thể sẽ ảnh hưởng tới rất nhiều mặt của các hệ sinh thái rừng như:

  • Mực nước biển dâng có thể làm cho các diện tích rừng ngập mặn suy giảm, ảnh hưởng nghiêm trọng tới rừng tràm và các diện tích đất phèn tại các tỉnh miền Nam Việt Nam;
  • Có thể có những thay đổi về ranh giới của rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh. Ví dụ, các diện tích rừng cây họ Dầu (rừng Khộp) có thể được mở rộng ra phía Bắc và lên các vĩ độ cao hơn. Rừng cây lá kim với các loài chịu hạn có thể tiếp tục phát triển do các điều kiện như thiếu độ ẩm đất, bốc hơi bề mặt lá ở mức cao do sự gia tăng nhiệt độ;
  • Sự gia tăng nhiệt độ kết hợp với bức xạ mặt trời phong phú có thể làm cho quá trình quang hợp của cây xanh mạnh lên, sự gia tăng quá trình này làm cho quá trình đồng hoá của cây xanh cũng tăng theo. Tuy nhiên, do sự tăng lên của quá trình bốc hơi nước, độ ẩm đất bị giảm, chỉ số sinh trưởng sinh khối của cây rừng vì thế cũng giảm theo;
  • Nguy cơ tuyệt chủng của động thực vật cũng gia tăng, một số loài thực vật quý hiếm và quan trọng có thể biến mất;
  • Sự gia tăng nhiệt độ và hạn hán có thể dẫn tới việc gia tăng nguy cơ cháy rừng, gia tăng dịch bệnh và sâu bệnh hại rừng.

Dựa vào các số liệu hiện có, Nguyễn Hữu Ninh (2007) đã tổng quan về biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long trong báo cáo “Flooding in Mekong river Delta”. Tác giả đã khái quát được các vấn đề như biến đổi khí hậu và lũ lụt, hiện trạng quản lý thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. Một trong những nhận xét quan trọng của báo cáo là về lâu dài biến đổi khí hậu sẽ tác động đến chế độ thủy văn và sự phát triển kinh tế - xã hội của Đồng bằng sông Cửu Long. Mặc dù Đồng bằng sông Cửu Long giàu về tài nguyên và tiềm năng phát triển nhưng vấn đề nghèo đói ở khu vực là rào cản lớn nhất trong thích ứng với biến đổi khí hậu. Các ngành dễ bị tổn thương nhất do BĐKH được nêu trong báo cáo là nông nghiệp, thủy sản và lâm nghiệp.

Trong nghiên cứu “Đánh giá tổn thương vùng ven bờ Việt Nam” (1994 – 1996), Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn đã phối hợp với các chuyên gia Ba Lan và Hà Lan đánh giá những tổn thương do BĐKH tại các vùng bờ Việt Nam, một số kết quả đáng chú ý như sau:

  • Sự ảnh hưởng sẽ không giới hạn cho một vùng hoặc một khu vực nào cả, và những ảnh hưởng vùng ven bờ do biến đổi khí hậu gây ra sẽ nghiêm trọng hơn các vùng nội địa;
  • Các vùng đất thấp sẽ phải chịu nhiều ảnh hưởng của lũ lụt hơn, nếu mực nước biển dâng lên thêm 1 m và không có những phương pháp bảo vệ nào thêm được thực hiện thì sẽ có khoảng 40.000 km2 sẽ bị ngập lụt hàng năm;
  • Các vùng đất ngập nước bị đe doạ và ảnh hưởng bởi nước biển dâng sẽ vào khoảng 17.000 km2, diện tích này chiếm khoảng 60% tổng diện tích đất ngập nước của Việt Nam. Những vùng bị ảnh hưởng nhiều nhất sẽ bao gồm các khu rừng ngập mặn ở Minh Hải, Vũng Tàu và TP. Hô Chí Minh. Khu RAMSAR Xuân Thuỷ và cửa sông Hồng ….

Liên quan đến cháy rừng, số liệu thống kê của Cục Kiểm lâm cho thấy ngoài những nguyên nhân chủ quan của con người thì BĐKH, đặc biệt là nhiệt độ không khí, hạn hán gia tăng cũng đã làm tăng các nguy cơ cháy rừng. Số liệu thống kê trong giai đoạn 1963 – 2008 cho thấy hàng năm diện tích rừng bị cháy là khoảng 14.653 ha, trong đó rừng tự nhiên bị cháy chiếm tới 57%.

 

Hình 3.2. Diễn biến diện tích rừng bị cháy ở Việt Nam giai đoạn 1963 - 2008

Qua các nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy biến đổi khí hậu sẽ tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội, các lĩnh vực kinh tế - xã hội… đặc biệt sự thay đổi nhiệt độ, lượng mưa và nước biển dâng sẽ ảnh hưởng sâu sắc tới các thảm thực vật rừng và hệ sinh thái rừng theo nhiều chiều hướng khác nhau. Việt Nam là quốc gia có 3.260 km bờ biển và sự đa dạng sinh học rất điển hình cho vùng nhiệt đới, đây là những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của một quốc gia nhưng trong điều kiện biến đổi khí hậu xảy ra thì các lợi thế này sẽ có những tác động ngược lại đối với nền kinh tế. Như vậy, một nghiên cứu để đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến thảm thực vật và hệ sinh thái rừng là hết sức cần thiết. Chúng ta cần dự đoán được sự dịch chuyển của phân bố các loại rừng nguyên sinh cũng như thứ sinh; mực nước biển dâng sẽ làm thu hẹp và ảnh hưởng tới bao nhiêu diện tích rừng ngập mặn và rừng Tràm; biến đổi khí hậu sẽ làm gia tăng nguy cơ diệt chủng của động vật và thực vật như thế nào; nhiệt độ và mức khô hạn gia tăng làm tăng nguy cơ cháy rừng, phát triển sâu bệnh và dịch bệnh phá hoại cây rừng ra sao. Những đánh giá và dự đoán này là rất quan trọng cho việc phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường nói chung và phát triển bền vững các hệ sinh thái rừng nói riêng ở Việt nam.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article