Do nước biển dâng, chế độ dòng chảy sông suối sẽ thay đổi theo hướng bất lợi, các công trình thủy lợi sẽ hoạt động trong điều kiện khác với thiết kế, làm cho năng lực phục vụ của công trình giảm.

(1)Tiềm năng tác động của các hiện tượng cực đoan trong tương lai đối với hệ thống công trình thuỷ lợi.

a. Dự báo tác động của biến đổi khí hậu đếncác hệ thống công trình thủy lợi.

Do nước biển dâng, chế độ dòng chảy sông suối sẽ thay đổi theo hướng bất lợi, các công trình thủy lợi sẽ hoạt động trong điều kiện khác với thiết kế, làm cho năng lực phục vụ của công trình giảm.

Các đầm hồ trong đất liền bị nhiễm mặn ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, nhiều loài có giá trị kinh tế hoặc ý nghĩa khoa học sẽ bị chết hoặc di cư. Nguồn nước ngọt giảm sẽ sinh ra thiếu nước sinh hoạt và sản xuất.

    Biến đổi khí hậu sẽ tác động sâu sắc đến tài nguyên nước của nước ta. Dòng chảy năm biến động từ +4% đến -19%, lưu lượng đỉnh lũ, độ bốc thoát hơi đều tăng, trong những thập kỷ tới tần suất xuất hiện các trận lũ lụt và hạn hán sẽ tăng lên và mức độ ngày càng trầm trọng hơn.

(2) Dự báo tác động của nước biển dâng, xâm nhập mặn trong tương lai đối với hệ thống công trình thuỷ lợi của Việt Nam.

(1)Đồng bằng sông Hồng.

Đối với cấp nước: 

Hệ thống cống bị mặn như Ngô Đồng, Nguyệt Lâm, Lịch Bài, Thái Học trên sông Hồng, Thuyền Quang, Dục Dương, Sa Lung, Ngữ trên sông Trà Lý, Hệ trên sông Hóa, Đồng Câu, Mới, Rỗ trên sông Văn Úc, Hệ, Ba Đồng, Lý Xã, Cao Nội trên sông Thái Bình, Cống Thóp trên sông Ninh Cơ. Các hệ thống ven biển như hệ thống Thủy Nguyên, Đa Độ, An Kim Hải, Tiên Lãng,  Vĩnh Bảo, Bắc - Nam Thái Bình, Trung- Nam Nam Định và Nam Ninh Bình sẽ thiếu nước do bị mặn (khoảng 70% diện tích).

* Đối với tiêu thoát nước:

Do ảnh hưởng của nước biển dâng thì diện tích  úng của đồng bằng Bắc Bộ sẽ khoảng 550.000ha với trường hợp tăng 0,69m (gần 1/4 diện tích đồng bằng Bắc Bộ thấp hơn mực nước Biển) và 650.000ha đối với trường hợp tăng 1,0m.


* Đối với chống lũ:

Nước biển dâng chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến các vùng gần cửa sông, sông Đáy 100-150km, sông Hồng 35-40km, Ninh Cơ 53km, Thái Bình 35-52km, Trà Lý 25-65km, Kinh Thày 20-25km tính từ cửa sông vào sâu trong đất liền. Như vậy mực nước dâng xấp xỉ cao trình đỉnh đê, cần có biện pháp và đầu tư nâng cao trình và củng cố đê cửa sông và ven biển. Đối với ngập lụt đồng bằng sông Hồng được bảo vệ bởi hệ thống đê sông và đê biển.


- Hiện tại vùng đất bán ngập là 14.136ha, trong đó diện tích ngập hoàn toàn là 1.432ha.

- Nếu mực nước biển tăng 0,69m lúc đó vùng đất bán ngập là 37.030ha, trong đó diện tích ngập hoàn toàn là 18.576ha.

- Nếu mực nước biển tăng thêm 1,0m thì vùng đất bán ngập là 43.433 ha, trong đó diện tích ngập hoàn toàn là 24.136ha.


Vùng diện tích ngập là vùng nằm trong phạm vi bãi sông, không được các tuyến đê bảo vệ.

Bảng 5.2. Tác động của BĐKH đến tình hình ngập vùng ĐBSH

Kịch bản

Cao độ (m)

Đồng bằng Bắc Bộ

Diện tích ngoài đê (ha)

Diện tích trong đê (ha)

Hiện tại

Vùng ngập hoàn toàn

< -1,5

1.432

2.013

Vùng bán ngập

< 1,5

24.136

157.781

Mực nước biển dâng lên thêm 0,69m

Vùng ngập hoàn toàn

< 0,8

18.576

114.645

Vùng bán ngập

< 2,2

37.030

263.319

Mực nước biển dâng lên thêm 1,0m

Vùng ngập hoàn toàn

< 1,5

24.136

157.781

Vùng bán ngập

< 2,5

43.433

321.998

 

Các tác động của biến đổi khí hậu đến hệ thống thủy lợi ở TP. Hải Phòng

+ Nước biển dâng

Theo tài liệu quan trắc của trạm Hòn Dáu hơn 100 năm qua, mực nước biển tăng khoảng 18-20cm.

Nước biển dâng sẽ làm mặn xâm nhập sâu vào các vùng cửa sông gây khó khăn cho việc lấy nước ngọt, mực nước tại các cửa sông dâng cao gây khó khăn cho tiêu thoát nước. Theo tính toán, tại Thành phố Hải phòng, nếu nước biển dâng cao 1 mét, sẽ có 18% dân cư chịu ảnh hưởng trực tiếp và 20% diện tích sẽ bị ngập thường xuyên. Khi đó các công trình thủy lợi không lấy được nước ngọt, tỉnh phải tính đến phương án lấy nước ngọt từ các tỉnh khác.

Các tác động của biến đổi khí hậu đến hệ thống thủy lợi ở tỉnh Thái Bình

+ Tình hình xâm nhập mặn

- Về xâm nhập mặn thì tất cả các sông, mặn đều xâm nhập sâu hơn so với các năm. Độ mặn có nồng độ trên 1/1000 thì xâm nhập sâu từ 15 – 20km. Khó khăn nhất là vùng Thái Thụy và Tiền Hải

+ Mặn ở sông Hồng đã xâm nhập tới cống Nguyệt Lâm, trên Sông Trà Lý thì mặn xâm nhập tới Cống Thiền Quan

+ Trên Sông Hóa, do xâm nhập mặn quá sâu nên tất cả các cống trên đều không mở được

Các tác động của biến đổi khí hậu đến hệ thống thủy lợi ở tỉnh Ninh Bình

+ Nước biển dâng

Tỉnh Ninh Bình chỉ có đường bờ biển khoảng trên 15 km thuộc huyện Kim Sơn. Do đặc trưng địa hình, khu vực bãi biển thuộc tỉnh Ninh Bình là bãi bồi, đã được tỉnh và Nhà nước đầu tư các tuyến đê biển Bình Minh 1, Bình Minh 2, và Bình Minh 3 bao quanh toàn bộ khu vực tiếp giáp với biển, phòng chống bão và lấn biển tăng diện tích trồng trọt.

Chế độ thuỷ triều có thời gian triều lên ngắn (khoảng 8 giờ) và triều xuống dài (gần 16 giờ). Biên độ triều trung bình từ 1,6 m đến 1,7 m và đạt cực đại tới trên 3 m. Dòng chảy của hệ thống sông Đáy, kết hợp với chế độ thuỷ triều đã bồi tụ tại vùng cửa sông, tạo nên bãi bồi và lấn biển với tốc độ khá nhanh. Do vậy vùng bãi bồi ven biển, ven sông ít xảy ra hiện tượng sụt lở đất.

Hiện tượng xâm nhập mặn thường lấn sâu vào các cửa sông từ 20-25km trên sông Đáy và 10-15 km trên sông Vạc. Những năm gần đây, xâm nhập mặn có dấu hiệu gia tăng nhất là vào giai đoạn đổ ải vụ chiêm xuân. 

(2)Bắc Trung Bộ.

* Về cấp nước:

Với kịch bản nước biển dâng 0,69 m, xâm nhập mặn vào sâu trong sông, mặn tiềm tàng trong đất, dẫn đến nhu cầu dùng nước sẽ tăng cao và ảnh hưởng tới khoảng 16.000 ha ở Thanh Hoá, 6.500 ha ở Nghệ An, 23.000 ha ở Hà Tĩnh, 10.000 ha ở Quảng Bình, 12.000 ha ở Quảng Trị và 13.000 ha ở Thừa Thiên Huế. Với kịch bản nước biển dâng 1,0 m, ảnh hưởng mặn ở Thanh Hoá là 32.000 ha, Nghệ An 12.000 ha, Hà Tĩnh 30.000 ha, Quảng Bình 15.000 ha, Quảng Trị 18.000 ha, Thừa Thiên Huế 25.000 ha. Khoảng 4 triệu người vùng ven biển thiếu nước sinh hoạt.

* Về tiêu thoát nước:

Với kịch bản nước biển dâng  0,69 m, ảnh hưởng tiêu tới vùng ven sông và vùng tiêu ra sông bằng cống tự chảy hiện nay. Trong đó, Thanh Hoá ảnh hưởng tới 35.000 ha, Nghệ An 30.000 ha, Hà Tĩnh 28.000 ha, Quảng Bình 16.000 ha, Quảng Trị 13.000 ha, Thừa Thiên Huế 15.000 ha. Với kịch bản nước biển 1,0 m, sẽ ảnh hưởng tới diện tích ở Thanh Hoá 45.000 ha, Nghệ An 35.000 ha, Hà Tĩnh 32.000 ha, Quảng Bình 21.000 ha, Quảng Trị 18.000 ha và Thừa Thiên Huế 23.500 ha.

* Về phòng chống lũ:

Với kịch bản nước biển dâng thêm 0,69 m và 1,0 m chỉ ảnh hưởng tới đê bối, đê cửa sông ven biển, còn vùng bị lũ uy hiếp không bị ảnh hưởng. Thủy triều chỉ ảnh hưởng nhưng không dâng cao mực nước trong sông mà chỉ giữ thời gian lũ dài hơn.

Các tác động của biến đổi khí hậu đến hệ thống thủy lợi đối với Thành phố Huế:

Cấp nước sinh hoạt và cấp nước cho tưới sẽ không bị ảnh hưởng nhiều từ nước biển dâng. Tác động đáng kể có thể tính đến là khả năng tiêu thoát trong mùa kiệt gây ứ đọng chất ô nhiễm vùng hạ du sông Hương, sẽ ảnh hưởng tiêu thoát đến khoảng 2.000 ha. Hàng loạt các tuyến đê không đảm bảo đối phó với nước biển dâng, ước tính ngập lụt khoảng 2.300 ha và ảnh hưởng tới 90% dân số Thành phố Huế.

(3)Nam Trung Bộ.

* Về cấp nước:

Với kịch bản nước biển dâng 0,69 m, xâm nhập mặn sẽ ảnh hưởng tới 14.000 ha ở Đà Nẵng - Quảng Nam, 25.000 ha ở Quảng Ngãi, 18.000 ha ở Bình Định, 10.000 ha ở Phú Yên, 7.000 ha ở Khánh Hoà. Với kịch bản nước biển dâng 1,0 m, ảnh hưởng mặn ở Đà Nẵng- Quảng Nam  là 18.000 ha, Quảng Ngãi 35.000 ha, Bình Định 24.000 ha, Phú Yên 16.000 ha, Khánh Hoà 10.000 ha. Khoảng 4,5 triệu người vùng ven biển thiếu nước sinh hoạt.

* Về tiêu thoát nước:

Với kịch bản nước biển dâng 0,69 m, sẽ ảnh hưởng tới khu vực Đà Nẵng - Quảng Nam diện tích ngập 25.000 ha, khu vực Quảng Ngãi có diện tích ngập 33.000 ha, khu vực Bình Định diện tích ngập 12.000 ha, khu vực Phú Yên diện tích ngập 11.000 ha, khu vực Khánh Hoà diện tích ngập 4.000 ha. Với kịch bản nước biển 1,0 m, sẽ ảnh hưởng tới Khu vực Đà Nẵng - Quảng Nam diện tích ngập 33.000 ha, khu vực Quảng Ngãi diện tích ngập 45.000 ha, khu vực Bình Định diện tích ngập 16.000 ha, khu vực Phú Yên diện tích ngập 14.000 ha, khu vực Khánh Hoà diện tích ngập 6.000 ha

* Về phòng chống lũ:

Với kịch bản nước biển dâng thêm 0,69 m và 1,0 m chỉ ảnh hưởng tới đê cửa sông ven biển, còn vùng bị lũ uy hiếp không bị ảnh hưởng. Thủy triều không dâng cao mực nước trong sông mà chỉ giữ thời gian lũ dài hơn.

(4)Đông Nam Bộ.

Theo phân chia các vùng kinh tế của cả nước, miền Đông Nam bộ bao gồm 10 tỉnh/thành phố là Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh, Bình Thuận và Ninh Thuận. Tuy nhiên, miền Đông Nam bộ có mối liên quan chặt chẽ với lưu vực sông Đồng Nai. Do vậy, khi nghiên cứu về thủy lợi của miền Đông Nam bộ không thể tách rời với lưu vực sông Đồng Nai, trong đó có 2 tỉnh thuộc Tây Nguyên nằm ở thượng nguồn lưu vực sông Đồng Nai là Lâm Đồng và Đắc Nông.

Các tác động của BĐKH đến hệ thống thủy lợi ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tầu

- Mặn xâm nhập vào đất nông nghiệp

- Dâng cao mực nước biển là một thảm hoạ đối với vùng bờ biển của tỉnh. Ảnh vệ tinh chp nghiêng cho thấy thành phố Vũng Tàu và vùng công nghiệp dọc sông Thị Vải sẽ có nguy cơ chìm ngập dưới tác động của mực nước biển dâng cao. (Nguồn Google Earth, 2008). Phần đất liền vùng bờ có tổng diện tích 720,04 km2, chiếm 36,46% diện tích toàn tỉnh (1975,14 km2); Dân số của vùng bờ chiếm khoảng 55% dân số toàn tỉnh;

- Xói lở bờ biển và nguy cơ ngập chìm vùng đất thấp ven bờ là một đe dọa nguy hiểm. Theo kịch bản mực nước biển daang cho Việt Nam, đến 2050 nước biển sẽ dâng cao thêm 33 cm, theo quy luật động lực sóng, chiều rộng bãi biển cát bị xói lở sẽ là 330 m- 3300 m, có nghĩa là một phần lớn dải đất thấp ven bờ phía Đông của tỉnh- nơi tập trung cơ sở hạ tầng du lịch và nghề nuôi trồng và chế biến thủy sản, nơi cư trú của hàng vạn hộ gia đình sẽ bị sóng phá hủy. Tình trạng còn có thể nguy hiểm hơn nếu mực nước biển dâng cao thêm 1,0m theo dự báo của các nhà khoa học Anh. Vùng đất thấp dọc sông Thị Vải, nơi tập trung các khu công nghiệp của tỉnh thậm chí còn bị đe dọa trầm trọng hơn vì định vị trên vùng sụt hạ địa chất.

Hình 5.1 Thành phố Vũng Tàu có nguy cơ chìm ngập dưới tác động của mực nước biển dâng cao (Nguồn Google Earth, 2008).

(5)Đồng Bằng sông Cửu Long.

Tác động của nước biển dâng sẽ ảnh hưởng theo mức độ và đối tượng khác nhau của từng tiểu vùng. Có thể phác họa một số tác động do biến đổi khí hậu, nước biển dâng đến công tác thủy lợi trên các mặt sau đây:

(i)Thay đổi khí hậu: Lượng mưa dự kiến sẽ gia tăng vào mùa mưa, giảm vào mùa khô và sẽ đối mặt với những trận bão nhiệt đới mạnh hơn. Quỹ đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía Nam và mùa bão kết thúc muộn hơn.

(ii)Thay đổi, biến động ranh giới giữa các vùng mặn, lợ, ngọt sẽ tác động lớn đến hệ thống canh tác truyền thống, cơ sở hạ tầng và đời sống xã hội của người dân.

(iii)Do địa thế thấp, nếu mực nước biển dâng cao như dự báo, qua đánh giá sơ bộ, diện tích ảnh hưởng mặn trên 4 g/l ở ĐBSCL với mực nước dâng 0,69 m sẽ tăng 45% (tương ứng chiếm 48% diện tích tự nhiên) và với mực nước dâng 1,00 m sẽ tăng 51% (tương ứng chiếm 58% diện tích tự nhiên). Năng suất lúa dự báo sẽ giảm 9%. Tiểu vùng nước ngọt quanh năm, chịu ảnh hưởng nhiều nhất vì nước mặn xâm nhập, đảo lộn hệ thống sản xuất, sản lượng lương thực, vườn cây ăn trái, thủy sản nước ngọt bị tổn thất lớn. Vai trò vựa lúa của cả nước, nguồn đóng góp quan trọng cho tổng kim ngạch xuất khẩu và ngân sách nhà nước, an ninh lương thực quốc gia mà ĐBSCL đang đảm nhiệm sẽ chịu thách thức nghiêm trọng. Một số ngành kinh tế truyền thống bị đe dọa, tổn thất.

(iV)Nước biển dâng cũng sẽ làm tăng mức độ ngập lụt ở vùng ngập lũ và ngập triều ven biển. Theo ước tính, nếu mực nước biển dâng cao 0,69 m sẽ có đến 91% diện tích vùng ĐBSCL bị ngập và nếu dâng cao 1,00 m sẽ ngập đến 93% diện tích. Thời gian ngập cũng vì thế kéo dài hơn từ 1,0-2,0 tháng. Điều này dẫn đến các hệ thống kiểm soát lũ, bố trí dân cư, hạ tầng cơ sở trong vùng ngập lũ và ven biển phải có những điều chỉnh ở quy mô lớn và việc bố trí mùa vụ sẽ khó khăn hơn.

(v)Cơ sở hạ tầng kỹ thuật bị hủy hoại và ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu muốn nâng cấp, xây mới kết cấu hạ tầng rất tốn kém.

 Bảng 5.3.Độ ngập và diện tích ngập lũ 2000 ở ĐBSCL trong điều kiện nước biển dâng

                                                                                                 Đơn vị: 1.000ha

Độ ngập (m)

Hiện trạng

Kịch bản BĐKH

NBD 0,69m

NBD 1,00m

Diện tích

Diện tích

So với HT

Diện tích

So với HT

H<0,5

1.049

202

-848

47

-1.002

0,5<H1,0

1.063

604

459

496

-567

1,0<H1,5

724

1.007

284

421

-302

1,5<H2,0

459

1.270

811

1.880

1.421

2,0<H2,5

288

414

126

592

304

2,5<H3,0

212

281

69

323

111

H>3,0

66

84

18

102

36

Tổng ngập > 0,5m (cả lũ và triều)

2.813

3.660

(Tăng30%)

 

3.815 (Tăng 36%)

 

(Nguồn: Trung tâm quốc tế về quản lý môi trường)

Các tác động của biến đổi khí hậu đến hệ thống thủy lợi tỉnh Cần Thơ

+ Nước biển dâng

Theo kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu của Trường Đại học Cần Thơ, những năm gần đây, mực nước cao nhất trên sông Hậu tại Cần Thơ mỗi năm bình quân tăng 4cm. Nếu tiếp tục đà này, trong vòng 20 năm tới mực nước cao nhất tính theo các đợt triều cường trên sông Hậu sẽ tăng thêm khoảng 0.8-1 m so với hiện nay. Khi đó, tình trạng ngập lụt mùa lũ không chỉ xảy ra ở các vùng trũng, nhiều tuyến đường trong các quận nội đô mà độ ngập sâu và diện ngập sẽ nhiều hơn lan ra các quận huyện lân cận như: Cái Răng, Bình Thuỷ, Ô Môn, Thốt Nốt.

Các nhà khoa học dự báo: tình trạng sạt lở trên sông Tiền, sông Hậu vào mùa lũ sẽ trầm trọng hơn, do mưa lũ diễn biến phức tạp từ thượng nguồn sông Mê Kông. Theo kết quả điều tra của nhóm nghiên cứu, TP.Cần Thơ hiện có 38 điểm sạt lở và có nguy cơ sạt lở, phân bố trên toàn bộ các quận, huyện. Các điểm sạt lở ngoài lý do nền địa chất yếu, do việc xây dựng các công trình có tải trọng lớn lên trên, do họat động của các tàu thuyền có tải trọng lớn, một lý do quan trọng do hiện tượng biến đổi khí hậu dẫn đến biến động dòng chảy lũ gây ra. Các điểm sạt lở trên địa bàn thành phố theo báo cáo từ các quận huyện như sau:

Bảng 5.4. Các điểm sạt lở trên địa bàn thành phố Cần Thơ

TT

Quận, huyện

Trên sông

Số điểm sạt lở

Chiều dài (m)

1

Ninh Kiều

R. Cái Sơn (KV6, 3)

2

2.000

2

Cái Răng

Sông Cần Thơ (KV7, 10)

2

650

3

Bình Thủy

Sông Trà Nóc, R.Cam, sông Hậu (Cồn Sơn, Cồn Khương)

5

4.655

4

Ô Môn

Sông Ô Môn, R.Sang Trắng, R.Bằng Tăng

6

13.520

5

Phong Điền

R.Vong, R.Nhơn Ái, R.Cầu Nhiễm, sông Cần Thơ, R. Xẻo Trầu

11

3.520

6

Thốt Nốt

Sông Hậu, Cần Thơ Bé

4

11.824

7

Vĩnh Thạnh

Kênh Cái Sắn – Thốt Nốt

7

10.500

8

Cờ Đỏ

Sông Ô Môn

2

8.000

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article