Việt Nam nằm ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương là 1 trong các vùng bão phát sinh và hoạt động mạnh. Bão vào nước ta thường di chuyển theo hướng Tây Bắc, Tây, Tây Nam và chuyển dịch hướng theo mùa. Mùa bão ở khu vực Biển Đông thường kéo dài 5 tháng trong năm (từ tháng 7 đến tháng 11), tập trung nhiều nhất vào tháng 8 và tháng 9.

(1)Tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan

a.Tác động tiêu cực của bão đến hệ thống công trình thủy lợi.                 

Việt Nam nằm ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương là 1 trong các vùng bão phát sinh và hoạt động mạnh. Bão vào nước ta thường di chuyển theo hướng Tây Bắc, Tây, Tây Nam và chuyển dịch hướng theo mùa. Mùa bão ở khu vực Biển Đông thường kéo dài 5 tháng trong năm (từ tháng 7 đến tháng 11), tập trung nhiều nhất vào tháng 8 và tháng 9. Theo thống kê trong vòng hơn 40 năm qua (1954-1997) đã có 320  cơn (trận) bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam, phần lớn khi bão đổ bộ vào Việt Nam đều có gió từ cấp 8 đến cấp 12 khi gió giật trên cấp 12 (Vmax > 40 m/s), trong đó 31% đổ bộ vào Bắc bộ, 36% đổ bộ vào Bắc Trung bộ, 33% đổ bộ vào Nam Trung bộ. Số lượng các trận bão đổ bộ vào Việt Nam gia tăng hàng năm, đặc biệt là trong 3 thập kỷ gần đây. Cường độ của bão cũng tăng đáng kể, chỉ riêng trong 10 năm (1981-1991) đã có 8 trận bão cấp 12 và 2 trận bão cấp 13 đổ bộ vào VN. Bão vào VN không chỉ gây gió xoáy mạnh, gió giật mà còn gây mưa to kéo dài, gây ra lũ lụt, nước biển dâng cao...Có tới 80% dân số VN chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão. Bão là loại thiên tai nguy hiểm nhất trực tiếp làm đổ nhà cửa, tàn phá hoa màu, phá huỷ các công trình hạ tầng, làm đắm tàu thuyền, gây ra mưa úng, lũ quét, nước dâng...Hiện chưa thể chống bão, mà chỉ có thể tránh bão. Nếu dự báo sớm và chính xác phạm vi ảnh hưởng cũng như hướng di chuyển của bão thì có thể giảm thiểu đáng kể hậu quả do bão gây ra, đặc biệt là những tổn thất về người và tầu thuyền ngoài khơi. Trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước, Việt Nam đã phải gánh chịu một số cơn bão gây thiệt hại nặng nề như: cơn bão Linda: đổ bộ vào bán đảo Cà Mâu tháng 11/1997, gây tổn thất rất lớn, 788 người chết, 1142 người bị thương, 2541 người mất tích, 2789 tầu thuyền bị chìm, thiệt hại lên tới 7.000 tỷ đồng; cơn áp thấp nhiệt đới tháng 11/1999: đổ bộ vào cực nam Trung bộ, gây ra một đợt mưa cực lớn kéo dài 6 ngày với cường độ mưa cực đại gây lũ lụt nghiêm trọng các tỉnh vùng Trung Trung bộ, làm 592 người chết, 204 người bị thương, thiệt hại khoảng 235 triệu USD; Đặc biệt tháng 5/2006, cơn bão Chanchu đã làm đắm hàng trăm tầu thuyền, làm chết và mất tích hàng trăm ngư dân các tỉnh thuộc vùng Trung Trung bộ.


Nhìn chung, bão là loại thiên tai xẩy ra hàng năm ở cả 3 vùng Bắc, Trung, Nam trong cả nước, đặc biệt là khu vực ven biển chịu tác động trực tiếp của bão. Bão không chỉ trực tiếp gây thiệt hại về người, tài sản, tầu thuyền, các cơ sở hạ tầng... mà còn là nguyên nhân gián tiếp gây ra nhiều loại thiên tai khác như: lũ lụt, úng ngập, lũ quét, sạt lở đất, nước biển dâng...

Bão thường kèm theo mưa lớn ở khu vực đồng bằng và trung du. Lượng mưa do bão gây ra có thể lên tới (700 - 1.100mm).


Bão thường có tốc độ gió rất lớn, có khi gió giật lên tới 40 m/s và thường kèm theo mưa lớn xảy ra trên diện rộng, kéo dài từ 3-4 ngày cũng có thể dài hơn từ 5-6 ngày liền gây lũ lụt và úng ngập ở nhiều nơi. Khi bão đổ bộ vào thường làm cho nước triều dâng cao, nhất là khi gặp triều cường và gió thuận thì hiện tượng nước dâng càng xảy ra mạnh mẽ. Chính vì vậy mà dọc theo vùng duyên hải hệ thống đê biển luôn trong tình trạng báo động, gia cố và sửa chữa quanh năm nhưng nạn úng lụt vẫn càng ngày càng nghiêm trọng hơn, đồng thời nước mặn cũng tràn sâu vào trong đồng làm cho hư hỏng hệ thống kênh bê tông và mức độ thiệt hại đối với sản xuất nông nghiệp bị nặng nề hơn. Đây là một loại hình thiên tai rất nguy hiểm tàn phá của cải vật chất, cơ sở hạ tầng và sinh mạng con người cũng như gia súc, kìm hãm sự phát triển kinh tế trong vùng.


Các trận bão lớn thường xuyên tập trung vào các tỉnh miền Trung, kéo theo sau là các trận lũ lụt gây thiệt hại nghiêm trng. Lũ các sông miền Trung thường ác liệt, lên nhanh, xuống nhanh, xảy ra trong thời gian ngắn. Lũ quét, lũ bùn đá, xuất hiện ngày càng nhiều hơn, quy mô và mức độ tàn phá ngày càng lớn hơn. Thời kỳ xuất hiện lũ ở các vùng thường khác nhau. Để phòng chống lũ, lụt, hiện cả nước đã xây dựng được 5.700km đê sông, 3000km đê biển, 23.000km bờ bao, hàng ngàn cống dưới đê, hàng trăm km kè bảo vệ bờ.

b, Tác động của hạn hán đến hệ thống công trình thủy lợi.

Hạn hán thường xảy ra trong các tháng mùa khô, thời kỳ nhiệt độ không khí tăng cao dẫn đến nhu cầu dùng nước tăng. Mùa khô kéo dài 6 – 9 tháng tùy theo từng vùng, tổng lượng dòng chảy chỉ chiếm 15 – 25% tổng lượng dòng chảy cả năm. Trong mùa khô, ba tháng liên tục có lượng dòng chảy nhỏ nhất xuất hiện không đồng thời giữa các vùng trong cả nước, lượng dòng chảy chỉ bằng 2 – 10%, trong đó lượng dòng chảy tháng nhỏ nhất chỉ chiếm 1 – 3% lượng dòng chảy năm. Trong mùa khô, nguồn cung cấp nước chủ yếu cho các sông là nước dưới đất và trong thời kỳ này nhiều sông ở vùng duyên hải, đặc biệt là vùng Nam Trung Bộ không có dòng chảy. Trong những năm gần đây, tình trạng hạn hán, thiếu nước trong mùa khô diễn ra phổ biến ở hầu hết các khu vực trong cả nước, với mức độ, quy mô ngày càng lớn hơn.

Tình trạng hạn hán, thiếu nước và mức độ trầm trọng của hạn hán còn do nhu cầu sử dụng nước tăng, việc khai thác, sử dụng nước thiếu quy hoạch, thiếu tính phối hợp, liên kết giữa các ngành, các địa phương và giữa các dạng nguồn nước hoặc không phù hợp với khả năng thực tế của nguồn nước.

Tuy tổng lượng giáng thủy có nơi tăng nơi giảm nhưng tần suất xuất hiện các trận mưa lớn và cực lớn có chiều hướng tăng lên. Từ năm 1970, hạn hán trở nên thường xuyên hơn, mức độ hạn nghiêm trọng hơn, phạm vi ảnh hưởng lớn hơn và thời gian hạn kéo dài hơn.


Trong 10 năm gần đây, hạn hán đã hoành hành gây hậu quả nặng nề đối với sản xuất nông lâm nghiệp của nhiều địa phương, đặc biệt là miền Trung và Tây nguyên, theo số liệu thống kê các tỉnh, đợt hạn từ cuối năm 1997 đến tháng 4/1998, tổng diện tích lúa bị hạn thiếu nước là 100.000 ha, trong đó bị mất trắng là 20.000 ha. Diện tích hoa mầu bị thiệt hại là 120.000 ha, trong đó mất trắng 9.100 ha. Thiệt hại của các tỉnh miền Trung riêng về nông nghiệp đã lên 1.400 tỷ đồng. Ngoài ra, các chi phí cho phòng chống hạn cuối năm 1997 và năm 1998 gần 1000 tỷ đồng.

c,Tác động của các yếu tố khí hậu cực đoan khác.

Lũ quét thường xẩy ra ở vùng đồi núi, nơi có độ dốc lớn, cường độ mưa lớn, đường tiêu thoát nước bị ứ nghẽn. Lũ quét cũng có thể xẩy ra do vỡ hổ chứa nhỏ, sạt lở đất lấp dòng chảy. Lũ quét có nguy cơ xẩy ra tại 33/64 tỉnh, thành phố trong cả nước thuộc 5 vùng: vùng núi phía Bắc, vùng duyên hải Bắc Trung bộ, vùng duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên và vùng Đông Nam bộ. Do biến đổi khí hậu (BĐKH), trong những năm gần đây, lũ quét xuất hiện ngày càng nhiều ở nước ta, bình quân có từ 2- đến 4 trận lũ quét xẩy ra trong mùa mưa lũ hàng năm. Lũ quét thường phát sinh bất ngờ, xẩy ra trong phạm vi hẹp nhưng rất khốc liệt, thường gây ra những tổn thất nghiêm trọng về người và của. Các trận lũ quét điển hình ở nước ta: trận lũ quét ngày 27/7/1991 tại thị xã Sơn La làm chết và mất tích 42 người, cuốn trôi 336 nhà, gây thiệt hại khoảng 26 tỷ đồng; trận lũ quét ngày 3/10/2000 tại Lai Châu làm chết và mất tích 39 người, thiệt hại khoảng 2 tỷ đồng; trận lũ quét ngày 20/9/2002 tại Hà Tĩnh làm chết 53 người, bị thương 111 người, thiệt hại 852 tỷ đồng; trận lũ quét năm 2005 tại Yên Bái làm chết 51 người, thiệt hại 160 tỷ đồng. Nói chung lũ quét là loại hình thiên tai khó dự báo trước nhưng có thể chủ động phát hiện và khoanh vùng những nơi nhiều khả năng xẩy ra để cảnh báo và chủ động phòng tránh.

Tố và lốc đều là những loại hình thiên tai nguy hiểm gây tác hại lớn, trong đó lốc thường nghiêm trọng hơn. Tố thường kèm theo gió mạnh gây đổ cây cối, nhà cửa, phá huỷ đường dây thông tin, đường dây tải điện, làm đắm tầu thuyền cỡ nhỏ. Lốc do có gió mạnh hơn, tốc độ lớn, lại liên tục chuyển hướng nên thường gây tàn phá khốc liệt. Tố, lốc thường xuyên xẩy ra ở nước ta. Những năm gần đây số lượng tố lốc gia tăng ngày càng nhiều. Ví dụ: năm 1997 có 56 cơn, năm 1998 có 63 cơn, gây thiệt hại hàng trăm tỷ đồng. Từ 1993 đến 1999 cả nước có 235 cơn lốc, làm chết 234 người, bị thương 158 người, sập đổ 9613 căn nhà, hư hại 85.742 căn nhà, làm thiệt hại 4.929 ha lúa và hoa màu, làm đắm và hư hại 417 thuyền. Tố và lốc xẩy ra bất ngờ, khó dự báo trước, việc phòng tránh thường bị động, nên hậu quả không lường.

Từ năm 1970, hoạt động của bão và áp thấp nhiệt đới có phần diễn ra mãnh liệt hơn. Số trận bão mạnh tăng lên, phân bố bão và hướng di chuyển của bão có nhiều thay đổi so với giai đoạn trước.


(2).Hiện trạng tác động của nước biển dâng, xâm nhập mặn đối với hệ thống công trình thuỷ lợi.

Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng với tỷ lệ trung bình 1,8mm/năm trong thời kỳ 1961 - 2003 và tăng nhanh hơn với tỷ lệ 3,1mm/năm trong thời kỳ 1993 - 2003. Tổng cộng, mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng lên 0,31m trong 100 năm gần đây.


Tại Việt Nam hiện tượng nước biển dâng kèm theo đó là xâm nhập mặn gây tác động chính đến các vùng ven biển. Xâm nhập mn ảnh hưởng đến hệ sinh thái các vùng ven biển, làm thay đổi cơ cấu hệ thống nuôi trồng thủy sản. Tăng cường các biện pháp công trình, phi công trình để trống xâm nhập mặn: như xây dựng các đập ngăn mặn ( đập Thảo Long trên sông Hương, ...)..... Chuyển đổi cơ cấu sản xuất: như xây dựng các hồ nuôi thủy sản nước lợ,....


Mực nước biển dâng làm cho việc cấp nước ở vùng duyên hải trở nên khó khăn hơn. Các tầng nước ngầm bị mặn xâm nhập, nước trong các giếng bị mặn hoá, không dùng cho sinh hoạt hoặc tưới được, buộc phải ngừng hoạt động. Hiện tượng nước mặn ngày càng xâm nhập sâu vào các cửa sông, lấn sâu vào đồng ruộng làm diện tích lúa bị nhiễm mặn tăng lên, làm cho nhiều công trình thuỷ lợi gặp khó khăn, không còn hoạt động bình thường, ví dụ: cống khó lấy được nước ngọt vì nước mặn đã khống chế ở cao trình tự chẩy; trạm bơm khó hoạt động liên lục vì miệng ống hút đã bị nước mặn khống chế...Việc suy giảm khả năng cung cấp nước của các công trình thuỷ lợi sẽ ngày càng nghiêm trọng hơn, thêm nhiều nguy cơ hạn hán, ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp và an ninh lương thực của quốc gia.

Ví dụ: Nếu nước biển dâng cao 1m, sẽ làm ảnh hưởng tới gần 12% diện tích và 10,8% dân số của VN, đặc biệt là ở 2 vùng châu thổ: Đồng bằng sông Hồng bị ngập 5.000km2 và Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập 15.000-20.000km2. Hệ thống đê biển không thể chịu được mực nước dâng do bão lớn như thiết kế, nguy cơ v đê là khó tránh khỏi. Việt Nam có thể bị mất đi 7% diện tích đất nông nghiệp, giảm ít nhất 5 triệu tấn lương thực, đe doạ nghiêm trọng an ninh lương thực.

Trong các thập kỷ qua, các khu vực bờ biển là những khu vực phát triển năng động nhất, do đó, ảnh hưởng của mực nước biển dâng sẽ gây ra hậu quả cực kỳ nghiêm trọng. Nước biển dâng cao sẽ làm ngập lụt hầu hết các vùng đất thấp , hàng triệu người sẽ phải di chuyển. Trong 100 năm qua, 70% chiều dài của các vùng cát xảy ra hiện tượng biển tiến. Ngập lụt và xói lở bở biển sẽ diễn ra nghiêm trọng hơn. Xâm nhập mặn sẽ tiến sâu hơn vào nội địa gây thiếu nước ngọt nghiêm trọng.


Nước biển dâng làm mặn xâm nhập sâu vào nội địa, các cống hạ lưu ven sông sẽ không có khả năng lấy nước ngọt vào đồng ruộng (vì ranh giới mặn 4g/l đã vào cách cửa sông khoảng 25-40km); vào mùa khô sẽ có khoảng trên 70% diện tích ĐBSCL sẽ bị xâm nhập mặn với nồng độ lớn hơn 4g/l.

Mực nước biển dâng lên làm việc cấp nước vùng duyên hải trở lên khó khăn hơn. Các tầng nước ngầm bị xâm nhập mặn khiến nhiều giếng khai thác nước không hoạt động được. Việc xâm nhập mặn sâu vào cửa sông làm nhiều công trình thủy lợi bị ảnh hưởng. Việc suy giảm khả năng cung cấp nước của các công trình sẽ ngày càng trầm trọng.


Tóm lại, nước biển dâng và xâm nhập mặn đã, đang và sẽ làm ảnh hưởng lớn đến nhiều công trình tưới tiêu, cấp thoát nước và vệ sinh môi trường. Các công trình này sẽ không hoạt động được gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống.


(3)Hiện trạng tác động của lượng mưa, dòng chảy đến hệ thống công trình thuỷ lợi.

Biến đổi về lượng mưa, phân bố mưa theo không gian và thời gian dưới tác động của biến đổi khí hậu đã có những ảnh hưởng nhất định tới việc cấp nước cho các ngành dùng nước.


Kết quả của các mô hình dự báo biến đổi khí hậu cho thấy tại nhiều khu vực lượng mưa sẽ tập trung hơn vào mùa mưa và giảm vào mùa khô. Mưa lớn tập trung sẽ làm tăng lượng dòng chảy mặt, giảm lượng nước ngấm xuống các tầng chứa nước dưới đất. Điều này làm gia tăng lũ lụt vào mùa mưa và thiếu nước vào mùa khô, trữ lượng nước ngầm sẽ suy giảm.


Ngoài ra, khả năng sinh thủy của lưu vực còn bị gián tiếp ảnh hưởng của biến đổi khí hậu do thảm phủ thực vật bị thay đổi. Các vùng khô hạn và bán khô hạn chịu tác động của lượng mưa giảm và bốc hơi tăng.


Những vùng có cao độ mặt đất lớn sẽ có lượng dòng chảy mặt tăng lên do lượng mưa tăng. Các hồ chứa, đập dâng, trạm bơm và giếng khai thác nước ngầm cũng bị ảnh hưởng.  Mưa lớn kéo theo gia tăng trượt lở đất và xói mòn sẽ làm tăng lượng phù sa chuyển tới và lắng đọng trong lòng hồ, làm giảm dung tích hữu ích của các hồ chứa. Chế độ dòng chảy thay đổi cũng làm cho vấn đề điều tiết của hồ trở nên khó khăn hơn, khả năng cung cấp nước giảm đi.


Do trữ lượng nước ngầm thay đổi, khả năng khai thác của nhiều giếng ngầm cũng bị giảm sút. Chế độ dòng chảy thay đổi cũng làm cho nhiều công trình không hoạt động đúng điều kiện thiết kế, năng lực công trình có thể bị suy giảm.


Sự biến đổi về lượng mưa, phân bố mưa theo không gian và thời gian dưới tác động của BĐKH đã có những ảnh hưởng ngày càng bất lợi đối với việc cấp nước cho các ngành dùng nước. Kết quả của các mô hình dự báo BĐKH cho thấy tại nhiều khu vực lượng mưa sẽ tập trung hơn vào mùa mưa và giảm vào mùa khô. Mưa lớn tập trung sẽ làm tăng lượng dòng chảy mặt, giảm lượng nước ngấm xuống các tầng chứa nước dưới đất, do đó làm gia tăng lũ lụt vào mùa mưa và thiếu nước vào mùa khô, trữ lượng nước ngầm cũng vì thế suy giảm. Ngoài ra, khả năng sinh thuỷ của các lưu vực còn bị gián tiếp ảnh hưởng của BĐKH do thảm phủ thực vật bị thay đổi đáng kể. Các công trình thuỷ lợi như: hồ chứa, đập dâng, trạm bơm, giếng nước ngầm... cũng bị ảnh hưởng vì nguồn nước bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng. Mưa lớn kéo theo gia tăng trượt lở đất và xói mòn, làm tăng phù sa bùn cát trôi theo dòng chảy lắng đọng trong lòng  các hồ chứa, làm giảm dung tích và tuổi thọ hồ chứa.

Chế độ dòng chảy thay đổi cũng làm cho vấn đề điều tiết hồ chứa trở nên khó khăn hơn, khả năng cung cấp nước giảm đi. Chế độ dòng chảy thay đổi làm cho nhiều công trình thuỷ lợi không hoạt động đúng theo các điều kiện thiết kế, năng lực công trình bị suy giảm, sự vận hành không được bình thường. Đối với nước dưới đất,do trữ lượng nước ngầm giảm, mức nước ngầm bị hạ thấp dần, khả năng khai thác của các giếng nước ngầm cũng bị giảm sút,  không còn đáp ứng được yêu cầu sinh hoạt hoặc tưới cho cây trồng.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article