Trong các lưu vực nghiên cứu, đồng bằng thuộc hệ thống sông Hồng - Thái Binh và sông Cả được các hồ chứa lớn cùng với hệ thống đê sông bảo vệ.

Trong các lưu vực nghiên cứu, đồng bằng  thuộc hệ thống sông Hồng - Thái Binh và sông Cả được các hồ chứa lớn cùng với hệ thống đê sông bảo vệ. Vi vậy, hai lưu vực này không tinh toán ngập lụt mà tinh toán mực nước cao nhất trong sông tại một số vị tri trong tương lai của một con lũ lớn đã xẩy ra trong thời kỳ nền 1980-1999.

Dưới tác động của BĐKH, dòng chảy lũ cùng với lưu lượng đỉnh lũ có xu thế tăng, các con lũ lớn sẽ có khả năng xẩy ra nhiều hơn trong tương lai. Con lũ lịch sử sẽ được thu phỏng theo tỉ lệ gia tăng của lưu lượng trung bình ngày lớn nhất và tổng lượng lũ ứng với cac kịch bản biến đổi khí hậu theo các thời kỳ. Kết hợp với nước biển dâng, lũ thượng nguồn gia tăng sẽ dẫn đến mực nước dọc sông dâng cao hơn uy hiếp đến các hồ chứa và hệ thống đê. giả thiết các hồ chứa sẽ cắt lũ đầy dung tích phòng lũ của từng hồ, lưu lượng còn lại sẽ xả xuống hạ du và được diễn toán bằng mô hình thủy lực cho đến biển Hệ thống sông Hồng - Thai Bình, con lũ lịch sử 1996 trên sông Đà được lựa chọn là lũ điển hình.

Các hồ chứa tham gia cắt lũ bao gồm hồ Sơn La, Hoà Bình, Thác Bà, Tuyên Quang. Lưu vực sông Cả, con lũ lịch sử 1988 được lựa chọn để tính toán, với sự tham gia cắt lũ của các hồ chứa Bản Vẻ, Bản Mồng, Ngàn Trươi, Thác Muối. Mặc dầu đã có sự điều tiết cắt lũ của hồ chứa, lũ lớn kết hợp nước biển dâng, vào cuối thế kỷ 21, mực nước lũ lớn nhất tại Hà Nội vẫn vượt báo động III (11,5 m) khoảng 0,5 m nếu xẩy ra tình huống lũ 1996. Tương tự, trên sông Cả, xẩy ra lũ dạng 1988, mực nước tại Nam Đàn vẫn vượt mức dạng báo động III khoảng 1,8m. Các lưu vực sông Thu Bồn, sông Ba, Đồng Nai, ĐBSCL, gia tăng dòng chảy lũ cùng với nước biển dâng đã làm cho tình hình ngập lụt càng thêm nghiêm trọng ở vùng đồng bằng hạ lưu. Mô phỏng trận lũ lớn xẩy ra trên lưu vực dưới tác động của BĐKH kết hợp với nước biển dâng cho thấy, thời gian ngập kéo dài, độ sâu ngập lụt, diện tích ngập tăng lên rõ rệt. Sông Thu Bồn, vào năm 2050 va 2100, mặc dầu có sự tham gia cắt lũ của hầu hết các hồ lớn nhưng nếu xẩy ra lũ lớn (dạng năm 1999) thì diện tích ngập lụt có thể sẽ tăng từ 1,5 đến 4 % so với hiện trạng lũ năm 1999. Sông Ba, vào năm 2050 và 2100, mặc dầu có sự tham gia cắt lũ của hầu hết các hồ lớn nhưng nếu xẩy ra lũ (dạng năm 1993) thì diện tích ngập lụt có thể sẽ tăng 3,5 % vào năm 2050 và tăng lên 6,5% vào năm 2100 theo kịch bản B2 và tương ứng là 3,6 và 8,2% ở kịch bản A2. Song Đồng Nai, diện tich ngập tăng từ 13% vào năm 2050 lên đến 18% vào năm 2010 (với dạng lũ năm 2000).

Mặc dầu hồ Dầu Tiếng tham gia cắt giảm lũ, nhưng ảnh hưởng tổng hợp của nước biển dâng và lũ thượng nguồn đã làm ngập lụt hạ du sông Đồng Nai ngày càng trầm trọng. Đặc biệt đối với ĐBSCL, hàng năm vào mùa lũ, lũ sông Mê Công làm ngập gần 2 triệu ha, kéo dài 3-5 tháng, các năm lũ lớn gây nhiều thiệt hại về nhân mạng cũng như tài sản. Tuy nhiên lũ cũng mang lại nguồn phù sa bồi đắp cho đất, nguồn thuỷ sản phong phú và có tác dụng tốt trong việc vệ sinh đồng ruộng. Các trận lũ lớn xẩy ra trong tương lai vào những năm giữa thế kỷ 21 kết hợp với nước biển dâng khoảng 30 cm sẽ làm cho diện tich bị ngập lụt tăng khoảng trên 25% so với trận lũ lịch sử năm 2000. Diện tich ngập chiếm gần 90% toàn bộ diện tích tự nhiên toàn ĐBSCL. Diện tich ngập >0,5 m lớn nhất lên đến 2.666.750 ha (chiếm 68,3% diện tích toàn ĐBSCL), tăng so với hiện trạng lũ năm 2000 là 1.160.653 ha (tương ứng 29,5% diện tích tự nhiên). Diện tich ngập >1,0 m lớn nhất lên đến 1.522.700 ha (chiếm 40% diện tích toàn ĐBSCL), tăng so với hiện trạng lũ năm 2000 khoảng 503.100 ha (tương ứng 14% diện tich tự nhiên).

Lũ gây ngập lụt các vùng ĐTM và TgLX, đặc biệt vùng kẹp giữa 2 sông Tiền và sông Hậu nghiêm trọng hơn. Ngoài các thành phố/thị xã đã bị ngập lũ hiện nay như Châu Đốc, Long Xuyên, Cao Lãnh, sẽ có thêm Sa Đéc, Vĩnh Long, Tân An, Mỹ Tho, Cần Thơ, Vị Thanh, Sóc Trăng, Rạch giá và Hà Tiên bị ngập trên 1,0 m, trong đó nghiêm trọng nhất là Cần Thơ và Vĩnh Long. Nước biển dâng làm cho tiêu thoát nước các thành phố/thị xã Mỹ Tho, Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu và Cà Mau khó khăn hơn. Lũ thượng nguồn ngày càng có xu thế tăng, nước biển dâng cao đã hạn chế khả năng tiêu thoát lũ trên hệ thống sông của ĐBSCL gây nên ngập lụt trầm trọng hơn. Điều này dẫn đến thời gian lũ lên sớm hơn và rút cũng muộn hơn dẫn đến khó khăn hơn trong tiêu thoát nước và bố tri mùa vụ. Theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010, thi diện tich đất sản xuất nông nghiệp bị ngập lớn nhất có thể đạt 2.086.420 ha chiếm 53% đất tự nhiên ĐBSCL, đất sản xuất công nghiệp và dân cư có thể ngập lớn nhất đạt 494.350 ha chiếm 12,6% đất tự nhiên ĐBSCL và đất thủy sản ngập lên đến 248.840 ha chiếm 6,3% đất tự nhiên.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article