Dưới tác động của biến đổi khi hậu, dòng chảy mùa lũ của phần lớn các sông đều có xu thế tăng, chỉ riêng sông Đồng Nai giảm so với thời kỳ 1980-1999 và không có sự chênh lệch đáng kể giữa hai kịch bản B2 và A2.

Dưới tác động của biến đổi khi hậu, dòng chảy mùa lũ của phần lớn các sông đều có xu thế tăng, chỉ riêng sông Đồng Nai giảm so với thời kỳ 1980-1999 và không có sự chênh lệch đáng kể giữa hai kịch bản B2 và A2. Với kịch bản B2, dòng chảy trung binh mùa lũ tăng khoảng 2-4% ở các sông trong hệ thống sông Hồng - Thái Bình, Cả và chỉ khoảng 0,9-1,5% ở hai hệ thống sông Thu Bồn và Ba vào thời kỳ 2040-2059; tăng lên 5-10% ở sông Hồng - Thái Binh và sông Cả và 1-2,5% ở hai hệ thống sông Thu Bồn, Ba vào thời kỳ 2080-2099; riêng sông Thao tăng khá nhiều, vào khoảng 8,5% tại yên Bái. Trong khi đó, dòng chảy mùa lũ của các sông trong hệ thống sông Đồng Nai lại giảm khoảng 4-7%, giảm nhiều nhất ở hạ lưu sông Bé tại trạm Phước Hoa. Vẫn cùng xu thế, do tác động của biến đổi khi hậu, dòng chảy mùa lũ trên toàn lưu vực sông Mê Công cũng tăng. So với thời kỳ 1985-2000, dòng chảy mùa lũ trung bình thời kỳ 2010-2050 của sông Mê Công tại Kratie và Tân Châu tăng khoảng 5% và 2% đối với kịch bản B2 và 11% và 5,8% đối với kịch bản A2. Trong tương lai, do tác động điều tiết của hệ thống hồ chứa trên sông Mê Công đã được xây dựng (kịch bản phát triển khai thác sử dụng nước), dòng chảy trung binh mùa lũ Kratie và Tân Châu trung bình cả thời kỳ 2010-2050 vẫn có xu thế tăng lên nhưng mức độ ít hơn, chỉ khoảng 3,2% và 1,1% ở kịch bản A2; nhưng lại giảm ở kịch bản B2.

Lưu lượng đỉnh lũ

Nhìn chung, tác động của biến đổi khí hậu sẽ làm gia tăng mức độ nguy hiểm của lũ lụt thể hiện ở lưu lượng đỉnh lũ và tổng lượng lũ tăng lên. Kết quả tính toán cho thấy mức thay đổi của lưu lượng đỉnh lũ lớn nhất năm tương ứng với tần suất 1% và 5% tại một số trạm thủy văn. Nhìn chung, giá trị lưu lượng đỉnh lũ lớn nhất năm (Qmax) tương ứng với các tần suất trên phần lớn các sông đều có xu thế tăng, mức tăng nhiều hơn ứng với các tần suất nhỏ. Chỉ riêng một số nhánh sông của sông Đồng Nai, Qmax lại co xu thế giảm. Với kịch bản B2, vào thời kỳ 2040-2059, giá trị Qmax tương ứng với tần suất 1% (Qmax1%) trên phần lớn các sông đều tăng vào khoảng 1-5% so với thời kỳ 1980-1999, tăng mạnh trên một số nhánh sông thuộc hệ thống sông Hồng (khoảng 9% tại yên Bái, Vụ Quang), nhưng lại có xu thế giảm ở sông La Ngà (-0,29% tại Tạ Pao) va thượng lưu sông Bé (-1% tại Phước Long). Vào thời kỳ 2080-2099, mức gia tăng của Qmax1% trên phần lớn các sông tăng khoảng 5-15%, tăng mạnh ở hạ lưu sông Ba (18,5% tại Củng Sơn), sông Thao (21,7% tại yên Bái), sông Lô (19% tại ghềnh gà). Ở sông La Ngà và thượng lưu sông Bé, giá trị Qmax1% của hầu hết các sông đều giảm khoảng 0,5-2,5% vào thời kỳ 2080-2099. Với kịch bản A2, gia trị Qmax tương ứng với các tần suất của hầu hết các sông đều có xu thế tăng so với thời kỳ 1980-1999, nhưng lại giảm ở sông La Ngà và thượng lưu sông Bé; mức biến đổi của Qmax lớn hơn so với kịch bản B2. Ngoài ra, mức biến đổi của Qmax tương ứng tần suất 1% lớn hơn so với tần suất 5%. Từ đó có thể cho rằng, mức biến đổi của các trận lũ nhỏ it hơn so với cac trận lũ lớn và đặc biệt lớn. Trên sông Mê Công, lưu lượng ngày lớn nhất (Qmax-ngày) tại Kratie của các kịch bản biến đổi khi hậu trong từng thời kỳ 10 năm từ 2010 đến 2050 đều tăng, Đến giữa thế kỷ 21, Qmax-ngày có thể tăng khoảng trên 50% so với đỉnh lũ năm 2000.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article