Hoàn thiện và thống nhất hệ thống quản lý nhà nước trong khai thác thủy sản từ trung ương đến địa phương. Từng bước áp dụng biện pháp quản lý nghề cá thông qua việc cấp và quản lý giấy phép khai thác thủy sản.

(1) Về chính sách quản lý nhà nước

Hoàn thiện và thống nhất hệ thống quản lý nhà nước trong khai thác thủy sản từ trung ương đến địa phương. Từng bước áp dụng biện pháp quản lý nghề cá thông qua việc cấp và quản lý giấy phép khai thác thủy sản.

Nâng cao năng lực bộ máy thanh tra chuyên ngành cả về nguồn nhân lực và phương tiện hoạt động, kinh phí...

Tăng cường vai trò quản lý của cộng đồng, các tổ đội sản xuất trên biển, các HTX, hiệp hội... nhằm gắn lợi ích với trách nhiệm cộng đồng, giảm dần vai trò làm thay của nhà nước trong một số hoạt động khai thác thủy sản.

Xây dựng hệ thống chính sách, lồng ghép BĐKH vào chương trình của ngành thủy sản:

-   Xây dựng tầm nhìn chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu của ngành;

-   Xây dựng cơ chế chính sách lồng ghép biến đổi khí hậu trong quy hoạch và các chương trình phát triển ngành;

-   Rà soát, đối chiếu hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách của ngành, kiến nghị sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các văn bản còn thiếu về vấn đề giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu;

-   Xây dựng cơ chế phối kết hợp giữa các Bộ, ngành, giữa Trung ương và địa phương và cơ chế quản lý các chương trình, dự án trong thực hiện chương trình hành động thích ứng với biến đổi khí hậu.

(2) Về chính sách tài chính

Đối với lĩnh vực sản xuất thuỷ sản, một ngành vẫn đang định hướng phát triển dựa vào kim ngạch xuất khẩu thủy sản ra thị trường thế giới, vốn rất nhạy cảm với thông tin về an toàn thực phẩm và thực phẩm sạch trên thị trường quốc tế. Do đó, cần tận dụng được nguồn vốn toàn cầu sẵn có. Theo các chuyên gia nước ngoài, hiện nay Việt Nam đang bị tụt lại so với các nước trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan trong việc tiếp cận các nguồn quỹ dành cho các hoạt động chống lại ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và phát triển sạch. Để tiếp cận những nguồn vốn đó, Việt Nam cần có một kế hoạch tốt và một cam kết mạnh mẽ. Xây dựng danh mục các dự án và hành động ưu tiên để đầu tư.

Chính phủ cần hỗ trợ kinh phí để thực hiện công tác điều tra, đánh giá nguồn lợi, khai thác phù hợp và sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy, hải sản trong vùng biển Việt Nam; Xây dựng các trạm quan trắc, trung tâm cảnh báo thiên tai sớm nhằm ngăn chặn, giảm thiểu những ảnh hưởng và tác động của BĐKH lên ngành thủy sản nói riêng và các ngành khác nói chung.

(3) Về chính sách bảo tồn, đa dạng sinh học

Thực hiện tốt các chương trình, dự án liên quan đến bảo vệ đa dạng sinh học và bảo tồn trong lĩnh vực thuỷ sản đã được phê duyệt như:

- Quyết định số 485/QĐ/TTg ngày 2/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án bảo vệ các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng đến năm 2015-tầm nhìn 2020

- Quyết định số 47/2006/QĐ-TTg ngày 01 tháng 03 năm 2006 về việc phê duyệt Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên-môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020

- Dự án Điều tra tổng thể đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy hải sản vùng biển Việt Nam;

- Dự án Quy hoạch và xây dựng hệ thống các khu bảo tồn biển phục vụ phát triển bền vững.

Ngoài ra, Luật đa dạng sinh học đã có hiệu lực, trước những tác động của biến đổi khi hậu cần xây dựng những văn bản dưới luật như các Nghị định, các Thông tư để hướng dẫn thực hiện các điều khoản trong luật. Trong đó đặc biệt ưu tiên bảo tồn và bảo vệ các hệ sinh thái san hô, cỏ biển, các hệ sinh thái đầm phá ven biển và hệ sinh thái rừng ngập mặn. Nên bổ sung vào các điều, khoản của luật này những vấn đề có liên quan đến khí hậu và BĐKH.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article