Đa dạng hóa đối tượng nuôi, mô hình nuôi cũng như đa đạng hóa đối tượng và loại nghề khai thác là biện pháp hiệu quả đối với nuôi trồng và khai thác thủy sản.

(1) Các biện pháp liên quan đối tượng và công nghệ

Đa dạng hóa đối tượng nuôi, mô hình nuôi cũng như đa đạng hóa đối tượng và loại nghề khai thác là biện pháp hiệu quả đối với nuôi trồng và khai thác thủy sản.

Hồ chứa xuất hiện ngày càng nhiều, do vậy vừa tận dụng diện tích phát triển nuôi trồng và khai thác, vừa tăng số lượng các đối tượng được nuôi. Ngoài trắm cỏ, cá mè đã trở nên phổ biến, cần tăng cường nuôi những đối tượng có giá trị kinh tế cao hơn, có nhu cầu và khả năng tiêu thụ tốt hơn, như cá rô phi, rô phi hồng, cá lăng, cá bống tượng... Bên cạnh đó, các hình thức tổ chức, quản lý sản xuất phù hợp cần được áp dụng.

Chọn tạo các đối tượng nuôi chịu mặn, thích nghi với vùng bị xâm nhập mặn hoặc chịu được độ mặn cao.

Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, các quy trình công nghệ trong nuôi và chế biến thuỷ sản, những mô hình sản xuất nhằm thích ứng với xu thế nhiễm mặn, thay đổi lịch thời vụ.

Đẩy mạnh nuôi trồng các đối tượng bản địa mới, có giá trị kinh tế cao, ít chi phí năng lượng và thức ăn so với các đối tượng truyền thống hiện nay hoặc nhập nội lâu năm.

Áp dụng các biện pháp khai thác xa bờ, hạn chế xả thải khí gây hiệu ứng nhà kính để giảm thiểu BĐKH .

(2) Thu thập thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu về BĐKH. Tăng cường cảnh báo và xây dựng quy hoạch.

Tổng hợp, thu thập, thống kê các tài liệu liên quan trong quá khứ, điều tra cơ bản, nghiên cứu xu thế biến đổi, đánh giá nguy cơ tác động của BĐKH và phát triển khoa học công nghệ đối với công tác đê điều, phòng chống bão lụt, giảm nhẹ thiên tai.

Xây dựng cơ sở dữ liệu, thiết lập hệ thống quan trắc, theo dõi phân tích đánh giá tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực kinh tế, xã hội, tài nguyên và môi trường.

Ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến trong dự báo, cảnh báo khí hậu, duy trì thông tin liên lạc từ trung ương đến địa phương, (vùng núi, vùng biển, vùng sâu, vùng xa). Từng bước xây dựng hệ thống quan trắc phục vụ cảnh báo thiên tai, tai biến môi trường cho lĩnh vực nuôi trồng và đánh bắt hải sản.

Quy hoạch hệ thống phòng chống thiên tai lĩnh vực thủy sản. Thông qua đó lập các kế hoạch, dự án chi tiết cho mỗi lĩnh vực sản xuất cụ thể. Tập trung vào  những vùng sinh thái-địa lý quan trọng đối với nuôi trồng ở cửa sông, ven biển, đảo.

(3) Công tác quản lý, củng cố hệ thống đê điều

Ứng dụng khoa học công nghệ mới trong  thiết kế, thi công, quản lý khai thác  đê điều, phòng chống thiên tai, giảm thiểu BĐKH. Thực hiện ch­ương trình củng cố, nâng cấp đê điều, ưu tiên những hệ thống đê liên quan nuôi trồng thủy sản tập trung. Tận dụng và bảo tồn các cồn cát tự nhiên để ngăn sóng thần, ngăn n­ước biển, ngăn mặn; Xây dựng các hồ chứa, tăng c­ường trồng rừng, triển khai các giải pháp tăng cư­ờng dòng chảy mùa kiệt và n­ước ngấm, tăng cường các công trình thủy lợi để chống hạn, chống úng…

Tăng cư­ờng nghiên cứu đề xuất các giải pháp chống bồi lấp cửa sông, nạo vét lòng dẫn tăng c­ường khả năng thoát lũ, kết hợp giao thông thủy.

Hình thành mới và đưa vào sử dụng hệ thống thủy lợi phục vụ thủy sản. Nâng cấp hệ thống bờ bao, củng cố hệ thống cống cấp, thoát nước phục vụ nuôi trồng thủy sản,

(4) Sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên nước

Về tài nguyên n­ước, Việt Nam có 23.600km2 diện tích lưu vực sông. Tổng lượng n­ước hàng năm chảy qua các sông, suối khoảng 835 tỷ m3. Do vậy, quản lý n­ước lưu vực sông và các hệ thống thủy lợi ở n­ước ta là vấn đề cần đ­ược quan tâm trong điều kiện khí hậu biến đổi.

Quản lý n­ước l­ưu vực sông là một vấn đề đã đư­ợc thực hiện từ nửa cuối của thế kỷ 20 và phát triển rất mạnh trong vài thập kỷ gần đây nhằm đối phó với những thách thức về sự khan hiếm nư­ớc, sự gia tăng tình trạng ô nhiễm và suy thoái các nguồn tài nguyên và môi tr­ường của các l­ưu vực sông.

Chiến l­ược quốc gia về tài nguyên n­ước, phải xác định l­ượng nư­ớc cần duy trì để đảm bảo yêu cầu cấp nư­ớc cho sinh hoạt đối với tất cả các sông, các hồ chứa n­ước, các tầng chứa n­ước, đặc biệt đối với các vùng khó khăn và khan hiếm n­ước tại các tỉnh ven biển miền Trung.

(5) Sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng

Ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến về tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng hiểu quả, môi trường xanh, nuôi sinh thái, tăng cường sử dụng các nguồn năng lượng sạch như điện gió, điện mặt trời ... trong các hoạt động sản xuất thủy sản nhằm bảo về môi trường, phục hồi các hệ sinh thái đã bị phá hủy dưới tác động của BĐKH – nước biển dâng.

(6) Nâng cao nhận thức

Xây dựng và triển khai các chương trình nâng cao nhận thức trong cộng đồng ngư dân, trong cộng đồng doanh nghiệp và các nhà quản lý.

Thực hiện tập huấn, tham quan trong và ngoài nước, nhất là những nước có điều kiện tương tự và chịu ảnh hưởng nhiều của BĐKH như Việt Nam.

Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng và các hội thảo về BĐKH về các nguy cơ của BĐKH trong sản xuất thủy sản.

Xây dựng chương trình truyền thông về tác động của BĐKH đến mọi người dân để vừa nâng cao ý thức, vừa tạo tâm lý chủ động phòng tránh và thích ứng với BĐKH.

(7) Nâng cao năng lực của cơ quan quản lý và cơ quản nghiên cứu

Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ và hiểu biết sâu rộng về BĐKH và tác động tới ngành thủy sản ở các cơ quan đầu ngành, các cơ quan quản lý, các viện nghiên cứu, trường đại học, các tổ chức khuyến ngư;

Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, đánh giá tác động bất lợi của các biểu hiện của BĐKH đến sản xuất thủy sản. Từng bước hình thành hệ thống các đơn vị có lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu về BĐKH và các tác động của BĐKH.

Ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến trong thu thập và xử lý số liệu. Thiết lập cơ sở dữ liệu, mạng lưới thông tin và trao đổi thông tin giữa các bên liên quan.

Theo dõi, đánh giá và dự báo ảnh hưởng của nước biển dâng đến diện tích NTTS các loại làm cơ sở bố trí và chuyển đổi cơ cấu giống/loài thích hợp.

(8) Xây dựng cơ chế chính sách

Rà soát, bổ sung và xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng các chính sách hỗ trợ sản xuất thủy sản và ổn định đời sống ngư dân để chủ động ứng phó và khắc phục hậu quả của BĐKH. Đặc biệt là chính sách quản lý, sử dụng tài nguyên đất, nước, chính sách an ninh lương thực, chính sách chuyển đổi cơ cấu sản xuất thích ứng với BĐKH, chính sách bảo hiểm thủy sản…

Tăng cường hoạt động của các tổ chức, cơ quan trong, ngoài Bộ và các địa phương; tăng cường mối liên kết, chỉ đạo giữa Văn phòng thường trực BCĐ về BĐKH của Bộ và các Cục, Vụ.

Xây dựng các cơ chế chính sách nghiên cứu, bảo vệ và sử dụng các nguồn gen địa phương, bản địa quý hiếm phục vụ công tác chọn tạo giống thích ứng với BĐKH.

(9) Phát huy kế thừa kinh nghiệm truyền thống

Các bài học tích lũy rất hiệu quả từ việc xây dựng hệ thống đê điều ở khu vực miền Bắc, kinh nghiệm “sống chung với lũ” ở khu vực miền Nam và kinh nghiệm “sản xuất không mùa vụ” ở khu vực miền Trung đều rất có ý nghĩa khi kế thừa và phát huy được hiệu quả trong các kế hoạch xây dựng để ứng phó với BĐKH khu vực nông nghịêp, nông thôn nói chung và lĩnh vực thủy sản nói riêng.
Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article