Tổng kết từ nhiều địa bàn trên thế giới cho thấy có ba cách ứng phó với mực nước biển dâng: bảo vệ (Protection), thích nghi (Accommodation) và rút lui (Retreat). Ba cách này đều áp dụng đối với các đối tượng: các công trình kiên cố, sản xuất nông nghiệp và các hệ sinh thái, đặc biệt các hệ sinh thái ngập nước (wetland).

Tổng kết từ nhiều địa bàn trên thế giới cho thấy có ba cách ứng phó với mực nước biển dâng: bảo vệ (Protection), thích nghi (Accommodation) và rút lui (Retreat). Ba cách này đều áp dụng đối với các đối tượng: các công trình kiên cố, sản xuất nông nghiệp và các hệ sinh thái, đặc biệt các hệ sinh thái ngập nước (wetland).

Không có một cách ứng phó duy nhất cho mọi đối tượng, ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi phương án nước biển dâng.

Ứng phó phải phù hợp với quy luật của tự nhiên, vì vậy ứng phó không thể riêng lẻ từng tỉnh vì sẽ manh mún, kém hiệu quả, thậm chí còn mâu thun, cản trở, triệt tiêu nhau.

Yêu cầu đối với ứng phó là gìn giữ tối đa có thể được để bảo vệ thành quả  lao động quá khứ, sinh mạng, tài sản và đời sống của nhân dân. Đối với đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của cả nước, yêu cầu còn liên quan đến vấn đề an ninh lương thực quốc gia.

Chính vì thế, việc ứng phó là phải biến thách thức thành thời cơ để phát triển bền vững.

(1) Xây dựng các chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho ngư dân bị tác động tiêu cực của BĐKH

BĐKH và các tác động của nó đã làm cho nhiều nghề khai thác thuỷ hải sản truyền thống bị thay đổi hoặc mất đi, ví dụ như các nghề sẻo, soi, đăng, bắt tay… truyền thống trong rừng ngập mặn, hoặc làm giảm năng suất các nghề khai thác khác ở khu vực ven bờ như nghề lưới rê, câu, vây…

BĐKH cũng gây ra sói lở/bồi tụ ven biển, đảo và giảm nguồn lợi, từ đó làm tổn thương đời sống kinh tế, xã hội của cộng đồng .

Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ ngư dân chuyển đổi nghề nghiệp sang các nghề khác phù hợp với họ để đảm bảo cuộc sống như chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản, làm dịch vụ thuỷ sản, tham gia quản lý nguồn lợi trong các mô hình đồng quản lý hoặc quản lý trên cơ sở cộng đồng. Hỗ trợ cộng đồng thông qua đầu tư vào ngư cụ, máy móc, tàu thuyền, dự báo ngư trường để tăng hiệu quả khai thác.

(2) Chính sách hỗ trợ về cơ sở hậu cần nghề cá

Trong điều kiện BĐKH đang diễn ra, các thiên tai như bão, áp thấp nhiệt đới sẽ diễn ra ngày càng nhiều với cường độ ngày càng lớn trên biển Đông, chính là nơi ngư dân và phương tiện khai thác của họ hoạt động. Do vậy, Nhà nước cần đầu tư xây dựng các khu neo đậu phòng tránh trú bão cho tàu thuyền khai thác thủy sản để giúp ngư dân và phương tiện của họ trú ẩn an toàn khi có thiên tai.

Hỗ trợ ngư dân đầu tư các trang thiết bị thông tin liên lạc để được thông báo kịp thời về tình hình thời tiết, ngư trường, đảm bảo thông tin liên lạc phục vụ tìm kiếm cứu nạn...

 Đầu tư xây dựng các cảng cá, chợ cá đầu mối nhằm mục tiêu đảm bảo chất lượng hàng thủy sản sau thu hoạch, tăng giá trị sản phẩm, giá bán, nâng cao hiệu quả khai thác thủy sản, đảm bảo an toàn cho người và phương tiện hoạt động nghề cá trên biển...

(3) Chính sách về khoa học công nghệ và khuyến ngư

Thuỷ sản là một ngành sản xuất đặc thù dựa rất nhiều vào điều kiện thời tiết và điều kiện môi trường tự nhiên. Chính vì vậy, công tác nghiên cứu khoa học trong ngành thuỷ sản luôn được chú trọng để có thể nghiên cứu sáng tạo ra những công nghệ nuôi mới, những đối tượng nuôi mới, những công nghệ khai thác mới phù hợp với sự biến đổi của điều kiện môi trường, khí hậu và nguồn lợi tự nhiên. Có thể thấy các tiến bộ trong nghiên cứu khoa học và công nghệ của ngành thuỷ sản nhằm thích ứng với BĐKH thời gian qua thể hiện rõ nhất ở các lĩnh vực như sản xuất giống nhân tạo, tạo giống mới, phòng trừ dịch bệnh, kiểm soát môi trường, xây dựng mô hình và công nghệ nuôi.

Trong lĩnh vực sản xuất giống nhân tạo, trước nhu cầu đối với các giống nuôi nước mặn, lợ mới ở vùng ven biển do sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất và mục đích sử dụng đất nhiễm mặn và khai thác tài nguyên biển, nhiều đối tượng nuôi mới đã được nghiên cứu cho đẻ nhân tạo thành công như các loại cá biển, nhuyễn thể, giáp xác như giống cá song, cá giò, cá hồng Mỹ, hàu biển, tu hài, ngao, cua biển, ốc hương, bào ngư, hải sâm, điệp. Việc cho đẻ nhân tạo thành công các giống nuôi mặn lợ này đã giúp làm giảm áp lực lên con giống tự nhiên, làm giảm áp lực lên nguồn lợi thuỷ sản đang có chiều hướng suy giảm do nhiều nguyên nhân. Đồng thời, hình thành được một mạng lưới các trại sản xuất giống cá biển, cua biển, ngao, tu hài ở nhiều địa phương ven biển và thúc đẩy mở rộng diện tích, quy mô nuôi biển và ven biển trên cả nước, góp phần thực hiện định hướng chính sách phát triển nuôi trồng thuỷ sản để bù đắp cho thiếu hụt về sản lượng khai thác hải sản.

Trong lĩnh vực chọn tạo giống mới, nhiều nghiên cứu cũng đã được thực hiện nhằm chọn tạo được những giống nuôi mới có khả năng chống chịu cao với điều kiện thời tiết khắc nghiệt, có sức khoẻ tốt, khả năng kháng bệnh cao. Đây chính là một hướng nghiên cứu khoa học đúng đắn của ngành thuỷ sản trong bối cảnh BĐKH đã và đang diễn ra với chiều hướng ngày càng mạnh hơn và gây tác động không nhỏ đến ngành thuỷ sản nói chung và lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản nói riêng.

Ngoài việc thực hiện các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học công nghệ và kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản trong nước, thời gian qua ngành thuỷ sản còn nhập nội nhiều công nghệ và kỹ thuật nuôi và sản xuất thuỷ sản của nước ngoài nhằm tăng hiệu quả sản xuất thuỷ sản và thích ứng với các thay đổi của điều kiện tự nhiên và thời tiết.

Các kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ trong ngành thuỷ sản thời gian qua đều đã được sử dụng tốt trong thực tiễn thông qua mạng lưới khuyến ngư hoạt động rộng khắp.

Khi khí hậu thay đổi, điều kiện môi trường xấu đi, dịch bệnh sẽ xuất hiện nhiều hơn cả về cường độ và tần xuất. Ngành thuỷ sản cũng đã thực hiện nhiều giải pháp khoa học công nghệ để ứng phó với vấn đề này, đảm bảo cho quá trình sản xuất của người nuôi và ngư dân được an toàn, hạn chế thiệt hại và rủi ro do dịch bệnh.

(4) Chính sách về tài chính

Đối với ngành thuỷ sản, có thể thấy rằng chưa có nhiều các nỗ lực về mặt tài chính từ phía Chính phủ, từ bản thân ngành thuỷ sản cũng như của các cộng đồng ngư dân, nhà sản xuất và doanh nghiệp trong việc đối phó với các tác động của BĐKH và thích ứng với BĐKH. Một số nỗ lực về tài chính của ngành có liên quan đến ứng phó với BĐKH và suy giảm nguồn lợi có thể kể đến việc thành lập Quỹ tái tạo nguồn lợi thuỷ sản.

Quỹ có các nhiệm vụ tài trợ hoặc đồng tài trợ cho các chương trình, dự án và hoạt động nhằm tái tạo và ngăn ngừa sự suy giảm nguồn lợi thuỷ sản; Hỗ trợ cho tổ chức, cá nhân lãi suất vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác để chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp khai thác thuỷ sản ở các vùng nước ven bờ ra xa bờ; Tạo việc làm cho các đối tượng phải di chuyển hoạt động khai thác ra khỏi các vùng được thiết lập khu bảo tồn biển, bảo tồn thuỷ sản nội địa, khu vực cấm khai thác; Ứng dụng công nghệ mới vào khai thác thuỷ sản có chọn lựa; Sản xuất giống thuỷ sản nhân tạo để tái tạo và phục hồi nguồn lợi thuỷ sản.

Còn các hoạt động tài chính để hỗ trợ rủi ro cho ngư dân và người nuôi khi gặp thiên tai, bão lũ vẫn nằm trong cơ chế hoạt động chung của Quỹ phòng chống lụt bão của quốc gia và các địa phương.

Ngoài ra, hầu hết các dự án nghiên cứu về BĐKH của quốc gia (nằm trong Chương trình Mục tiêu Quốc gia về BĐKH) hoặc do quốc tế tài trợ đều có các nội dung nghiên cứu liên quan đến ngành nông nghiệp hoặc thuỷ sản. Đây cũng chính là một nguồn tài chính hỗ trợ cho ngành thuỷ sản thực hiện các nghiên cứu ban đầu tiếp cận với vấn đề BĐKH mặc dù các hoạt động của ngành đã nằm trong phạm vi ảnh hưởng của BĐKH trong suốt thời gian qua.

(5) Lồng ghép BĐKH vào các điều, khoản của Luật Thủy sản

Cần phải có các quy định riêng có tính chất pháp luật nhằm thực hiện chính sách về ảnh hưởng của BĐKH lên lĩnh vực thủy sản. Có thể lồng ghép những chính sách nhằm thích ứng, giảm thiểu tác động của BĐKH vào trong Luật Thủy sản.

Các văn bản liên quan đến chính sách nghề cá, hoạt động thủy sản, các đề tài dự án về quy hoạch thủy sản cần phải lồng ghép yếu tố BĐKH vào quá trình thực hiện. Các văn bản này cũng cần phù hợp với xu hướng chung của khu vực và quốc tế, với Công ước khung về BĐKH...

(6) Tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cộng đồng ngư dân về BĐKH

Ngư dân khai thác và nuôi trồng thuỷ sản ven biển là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất trước tác động của BĐKH. Cuộc sống và hoạt động sản xuất hàng ngày của họ đều phụ thuộc vào diễn biến của thời tiết, khí hậu, và họ cũng chính là một bên gây ra BĐKH. Vì vậy, họ là đối tượng cần có hiểu biết và nhận thức rõ về nguyên nhân, tác động của BĐKH, cũng như nắm được những biện pháp hàng ngày cần phải có để đối phó, thích ứng và giảm nhẹ tác động của BĐKH lên sản xuất và đời sống.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, đa số cộng đồng ngư dân và nông dân nuôi trồng thuỷ sản vẫn còn “xa lạ” với thuật ngữ “BĐKH”, vì vậy cần tăng cường tổ chức các buổi nói chuyện, trao đổi cho người dân để họ nhận thức được khí hậu không phải là vấn đề “hàn lâm” mà thực tế nó có tác động rất lớn đến cuộc sống, là mối đe dọa trực tiếp đến sức khỏe và cuộc sống của con người. Qua những hoạt động này, nhận thức và sự hiểu biết của người dân về các vấn đề biến đổi khí hậu sẽ tăng lên và qua đó thay đổi hành vi của họ với môi trường như tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên nước, bảo vệ rừng ngập mặn, trồng và bảo vệ các loại rừng phòng hộ ven biển… Đây có thể coi là những bước ban đầu để chuẩn bị năng lực cho người dân ở những cộng đồng dễ bị tổn thương nhất, trong đó có cộng đồng ngư dân và nuôi trồng thuỷ sản quy mô nhỏ ven bờ.

(7) Chính sách về hợp tác quốc tế

Hợp tác quốc tế, chia sẻ kinh nghiệm tạo điều kiện cho việc đối phó có hiệu quả với các ảnh hưởng mang tính khu vực như nguồn nước, dịch bệnh. 

Xây dựng và đề xuất các đề tài, dự án, tìm nguồn tài trợ của cộng đồng quốc tế cho hoạt động giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu của ngành;

-   Tăng cường hợp tác, kết nối với các chương trình quốc tế và khu vực, trao đổi thông tin, thiết lập mạng lưới đối tác song phương và đa phương về biến đổi khí hậu liên quan đến ngành;

-   Tổ chức hoạt động đào tạo nhân lực, chuyển giao kinh nghiệm và công nghệ về giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu ngành;

-   Nghiên cứu xây dựng cơ chế huy động, sử dụng các nguồn vốn hỗ trợ hiệu quả và thiết lập quỹ thực hiện chương trình thích ứng với biến đổi khí hậu của ngành;

-   Tăng cường phối kết hợp, lồng ghép với các chương trình, kế hoạch hành động thực hiện các cam kết đa phương về môi trường. Thực hiện công ước khung của LHQ về BDKH tại Việt Nam

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article