Từ kịch bản mực NBD ở trên, đem đối chiếu với bình độ độ cao của các vùng so với mực nước biển (nhưng không xét đến các yếu tố tác động khác) để tính toán cho ĐBSCL với 4 kịch bản (thấp B1, trung bình B2 và cao A2, A1F1).

Từ kịch bản mực NBD ở trên, đem đối chiếu với bình độ độ cao của các vùng so với mực nước biển (nhưng không xét đến các yếu tố tác động khác) để tính toán cho ĐBSCL với 4 kịch bản (thấp B1, trung bình B2 và cao A2, A1F1). Tuy nhiên do còn nhiều trở ngại mà kịch bản B1 rất ít khả năng trở thành hiện thực khi nhiệt độ chỉ tăng dưới 20C vào cuối thế kỷ 21. Hai kịch bản A2, A1F1 cũng ít có khả năng xảy ra nhờ những nỗ lực hiện tại của cộng đồng quốc tế chống BĐKH. Do vậy, kịch bản ở mức trung bình B2 dễ được chấp nhận hơn cả.

Do đó, có thể đưa ra dự báo là vào cuối thế kỷ 21, theo kịch bản trung bình B2 thì nhiệt độ có thể tăng 2,30C (1,6-2,80C) so với thời kỳ 1980-1999. Nhiệt độ ở các vùng phía Bắc tăng nhanh hơn so với các vùng phía Nam. Nhiệt độ mùa Đông tăng nhanh hơn mùa Hè. Lượng mưa trung bình cả năm và lượng mưa vào mùa mưa đều tăng, còn lượng mưa vào mùa khô sẽ giảm, đặc biệt là ở các vùng phía Nam. Trung bình lượng mưa năm tăng khoảng 5% so với thời kỳ 1980-1999. Tại các vùng phía Bắc lượng mưa tăng nhiều hơn so với các vùng phía Nam. Mực nước biển dâng thêm khoảng 30 cm vào giữa thế kỷ 21 và 75 cm vào cuối thế kỷ 21.

Đối với ĐBSCL, ở mực nước biển dâng 65 cm thì ĐBSCL ngập 5.133 km2, chiếm 12,8% diện tích đồng bằng. Tương tự nếu mực nước biển dâng 75 cm-ngập 7.580 km2, chiếm 19% diện tích ĐBSCL và mực nước dâng lên 100 cm thì diện tích ngập sẽ là 15.116 km2, chiếm 37,8% diện tích ĐBSCL.

Theo một số tính toán, khi mực NBD là 1 m thì ĐBSCL có khoảng 1,5-2 triệu ha bị ngập và những năm có lũ to diện tích ĐBSCL có thể bị ngập tới 90% và ngập trong thời gian 4-4,5 tháng, còn vào mùa khô sẽ bị nhiễm mặn lên tới 70% diện tích nếu lấy đường đẳng muối 4‰. ĐBSH sẽ bị ngập khoảng 0,3-0,5 triệu ha và 0,4 triệu ha ở vùng duyên hải miền Trung.

Mực NBD sẽ làm ngập phần lớn vùng ĐBSCL và ĐBSH vào năm 2070, đe doạ sản xuất lúa và an ninh lương thực. Nếu mực NBD cao 90 cm, khoảng 0,5 triệu ha ở ĐBSH, 1,5-2 triệu ha ở ĐBSCL và 0,4 triệu ha ở vùng đồng bằng duyên hải miền Trung bị ngập. RNM sẽ bị ngập tới 400.000 ha. Mặn xâm nhập sâu vào đất liền, tác động tới khoảng 2,2-2,5 triệu ha. Do giảm khả năng thoát nước, sẽ gây ngập lụt dọc sông Mê Công tới 400 km, và dọc sông Hồng tới 200 km kể từ cửa sông. Nhiều thành phố, thị xã, kể cả cảng Hải Phòng, cảng Vũng Tàu và nhiều nơi thuộc tỉnh Bến Tre bị ngập.

Thực tế cho thấy, trong mấy năm gần đây, tình hình ngập lụt diễn ra thường xuyên ở 5 thành phố như Tp.Hồ  Chí  Minh, Cần  Thơ , Vĩnh  Long, Cà  Mau và  Hải  Phòng. Hai vùng có nguy cơ ngập mặn nặng nhất là Bến Tre và bán đảo Cà Mau. Ngập lụt do lũ thường xuyên xảy ra ở các thành phố duyên hải miền Trung, nổi bật nhất là thành phố Huế. Ngập lụt gây khó khăn về giao thông, ô nhiễm môi trường nước, tác động bất lợi đến sinh hoạt của cộng đồng người dân, nhất là bộ phận những người tham gia sản xuất thủy sản.

Ngập, lụt còn dẫn đến việc thuỷ sản nuôi thoát khỏi hệ thống ao, đầm ra ngoài tự nhiên, tác động đến đa dạng sinh học.

NBD làm cho hệ thống đê sông, đê biển và hệ thống hồ chứa mất an toàn. NBD làm cho chế độ dòng chảy ven bờ thay đổi, gây xói lở bờ biển; giảm khả năng tiêu thoát nước dẫn đến diện tích ngập và thời gian ngập úng tăng. BĐKH làm thay đổi thời vụ, tăng dịch bệnh, giảm năng suất. BĐKH làm suy giảm nguồn lợi thủy sinh và suy giảm chất lượng đất.

Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới, nếu NBD 1 m thì 10,8% dân số của Việt Nam phải di dời chỗ ở. BĐKH có thể gây ra hạn hán, triều cường, nước mặn xâm lấn, bão thường xuyên và mạnh hơn, thay đổi mùa vụ canh tác đối với vật nuôi, cây trồng.

- Một số biện pháp ứng phó với BBĐKH có thể áp dụng.

Bảng 4.6. Các giải pháp ứng phó với BĐKH (theo Anner, 2009).

Các hiện tượng của BĐKH

Giải pháp ứng phó

1. Hạn hán

- Cải thiện việc dự trữ nước

- Bảo đảm cho các hệ thống thuỷ lợi hiệu quả hơn

- Tìm các nguồn nước mới (như tầng nước ngầm sâu)

2. Triều cường

- Củng cố và đắp cao thêm đê

- Trồng lại rừng ven biển hoặc những vùng đệm (rừng đước, các vùng lầy nước mặn)

3. Nước mặn xâm lấn

- Các nguồn nước ngọt mới (tầng nước ngầm)

- Khử muối

- Các đập nước tạm thời (khi nước sông quá thấp không thể chặn nước mặn từ biển lấn vào)

4. Bão thường xuyên hơn và mạnh hơn

- Xây nhà chống được bão

- Trồng lại rừng và vành đai cây chống bão

5. Làm thay đổi phương thức nông nghiệp (thay đổi về mùa vụ, hoa màu và hoa màu chín theo lịch mới)

- Phát triển các giống cây trồng mới

- Thay đổi thói quen nông nghiệp (trồng sớm hơn)

- Chuyển sang các giống cây khác phù hợp hơn hoặc chuyển sang các hoạt động kinh tế khác

6. Mưa mạnh bất thường (Có thể gây lũ lụt và lở đất. Lũ có thể làm hỏng nhà cửa, phá hoại mùa màng, các hệ thống nước ngọt và khiến công tác cứu hộ trở nên khó khăn.)

- Bảo vệ các hệ thống nước

- Xây nhà cộng đồng tránh lũ và công trình tránh bão.

- Đưa người dân ra khỏi vùng dễ bị lũ lụt

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article