Việt Nam có 28 tỉnh ven biển, trong đó khoảng 20 triệu dân sống gắn bó với biển và hải đảo. Khi khí hậu biến đổi, thiên tai xảy ra, sản xuất khó khăn, thu nhập sẽ giảm sút, đói nghèo nảy sinh, các vấn đề xã hội xuất hiện...

Việt Nam có 28 tỉnh ven biển, trong đó khoảng 20 triệu dân sống gắn bó với biển và hải đảo. Khi khí hậu biến đổi, thiên tai xảy ra, sản xuất khó khăn, thu nhập sẽ giảm sút, đói nghèo nảy sinh, các vấn đề xã hội xuất hiện...

Thực tế cho thấy, người dân có thể bị mất nơi cư trú, phải di cư, chuyển đổi nghề nghiệp... Một bộ phận dân chúng, khi đó, khó tiếp cận hệ thống giáo dục, văn hóa, y tế.

Thiệt hại do cơn bão số 2 vào cuối tháng 7/2005, đổ bộ vào 4 tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định kèm theo mưa lớn đã làm 15.000 ha bị ngập trắng, các cống tưới tiêu bị sạt lở, nhiều bè nuôi bị chìm và hư hỏng. Cũng trong năm 2005, cơn bão số 7 (15-17/9/2005) gây thiệt hại cho NTTS là 20.706,2 ha, trong đó Nam Định thiệt hại 6.200 ha, Ninh Bình 2.780 ha, Thanh Hoá 3.778 ha.

Trận lũ  xảy ra vào ngày 6-7/10/2009 ở miền Bắc nước ta được coi là trận lũ lịch sử lớn nhất trong vài chục năm qua đã gây thiệt hại về người (51 người chết và 14 người mất tích) và của (60.000 ngôi nhà chìm trong nước, 6000 ngôi nhà bị đổ, sập, phá hỏng 25.000 ha lúa và 95.000 ha hoa màu).

Cơn bão số 9 Ketsana năm 2009 đổ bộ vào miền Trung gây lũ lụt nghiêm trọng.  Bão số 9 gây thiệt hại nặng nề về tài sản với gần 20.000 ngôi nhà bị sập, trôi hoàn toàn, trên 165.000 nhà bị tốc mái, hư hỏng, khoảng 120.000 nhà bị ngập. 50.000 ha lúa và hoa màu mất trắng. Gần 13.000 trạm y tế, trụ sở UBND xã, trường học và các công trình công cộng bị hư hỏng. Các tuyến giao thông huyết mạch bị cắt đứt ở nhiều nơi. Hệ thống điện lưới bị hư hỏng nặng ở nhiều địa bàn. Đợt lũ này hoành hành khắp các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên tương đương hoặc đạt đỉnh mới so với đỉnh lũ năm 1999.

Tại miền Nam, cơn bão Linda xảy ra vào tháng 11/1997 đã đổ bộ vào đất mũi Cà Mau (nơi rất ít khi có bão xảy ra), gây thiệt hại nặng nề về người và cơ sở vật chất đối với tỉnh Cà Mau. Tại Kiên Giang, lũ năm 2000 làm ngập tràn 6.512 ha NTTS, trong đó 6.100 ha diện tích nuôi tôm của tỉnh, thiệt hại khoảng 77 tỷ đồng.

        Năm 2007, theo Tổng cục Thống kê, tổng thiệt hại do thiên tai, chủ yếu là do sạt lở đất, mưa to và bão lũ gây ra ở 50 tỉnh, thành phố trên cả nước ước tính lên tới trên 11.600 tỷ đồng, bằng khoảng 1% GDP. Thiên tai đã làm 435 người chết, mất tích; làm ngập và hư hại 113.800 ha lúa; phá huỷ trên 1.300 công trình đập, cống, làm sạt lở cuốn trôi hơn 1.500 km đê và kênh mương; làm hơn 7.800 ngôi nhà và phòng họp bị sập đổ. Do ảnh hưởng nặng nề của thiên tai nên tình trạng thiếu đói vẫn xảy ra ở những vùng gặp nạn. Năm 2007, Nhà nước và các tổ chức, cá nhân cả nước đã đóng góp để hỗ trợ 723.900 lượt hộ với 3.034.500 lượt nhân khẩu trong diện thiếu đói, gặp nạn.

Năm 2008, một đợt rét kéo dài 38 ngày gây chết nhiều đàn cá bố mẹ, đặc biệt là các loài cá nhập nội từ vùng nhiệt đới châu Mỹ (cá Chim trắng nước ngọt), châu Á (cá Ro hu, cá Mrigal), châu Phi (cá Trê phi).

Theo kết quả thống kê, trong 11 tháng của năm 2009, thiên tai đã làm 481 người chết và mất tích, tàn phá 42 nghìn ha lúa, hoa màu, 11 nghìn ha diện tích NTTS, 66 km đê, 21,2 km kè, gần 1.200 km đường giao thông cơ giới, gần bảy nghìn cột điện, 25 nghìn ngôi nhà... tổng thiệt hại 23,2 nghìn tỷ đồng.

Carew Ried (2007) đã đưa ra các kịch bản số lượng các làng xã phải di chuyển khi mực NBD từ 1 m lên 5 m vào cuối thế kỷ 21 ở ĐBSCL: NBD 1 m, số làng xã phải di dời là 1000 xã; NBD 2 m, 1001-2500 xã; NBD 3 m, 2501-7500 xã; NBD 4 m, 7501-15000 xã; NBD 5 m, trên 15.000 xã.

Các thiệt hại do BĐKH gây ra đối với ngư dân: (1) Dịch bệnh sau các trận lũ lụt. Thiếu lương thực và các điều kiện sức khỏe không an toàn; (2) Thiệt hại đáng kể về của cải, bao gồm nhà cửa, đất đai; các phương tiện đánh bắt, hệ thống nuôi, hệ thống kênh mương, bờ bao, cơ sở hạ tầng nghề nuôi; (3) Sản phẩm nuôi bị thất thoát; dịch bệnh gia tăng sau bão, lũ; (4) Sự đe dọa đến các phương tiện điều tiết nguồn nước cũng như điều tiết lũ và hệ thống phòng chống thiên tai và hệ thống thủy lợi; (5) Xâm nhập mặn, xói lở…

Ngư dân khai thác và cộng đồng nuôi trồng thủy sản đều chịu ảnh hưởng từ BĐKH lên mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần. Bão, lũ lụt, xói mòn, triều cường, nước dâng do bão… sẽ làm phá hủy hàng trăm km hệ thống kênh mương, tưới tiêu, cấp thoát nước, hệ thống bờ kè, bờ bao các ao nuôi. Chi phí để khôi phục và xây mới lại là một con số không nhỏ, có thể lên đến hàng trăm triệu. Chưa kể khi hệ thống bờ kè, bờ bao bị phá hủy, tôm, cá.. sẽ thoát ra ngoài theo con nước ra biển, họ sẽ có nguy cơ mất trắng số vốn liếng hàng trăm triệu đồng đã đầu tư vào con giống và thức ăn.

BĐKH đã và đang gây ra những nguy cơ tiềm ẩn không nhỏ đối với cơ sở hạ tầng của ngư dân nghề cá và NTTS ở các vùng tiếp giáp với biển trên cả nước.

Ở Việt Nam có tới 58% dân cư vùng ven biển có sinh kế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và đánh bắt thủy sản, khoảng 480.000 người trực tiếp làm nghề đánh bắt hải sản, 10.000 người chế biến hải sản và 2.140.000 người cung cấp các dịch vụ liên quan đến nghề cá. Một điểm đáng được quan tâm đối với cộng đồng dân cư ven biển là đa số người làm nghề đánh bắt thủy sản là những người nghèo trong xã hội. Do sản lượng đánh bắt tự nhiên giảm, nền tảng kinh tế của mọi cộng đồng dân cư ven biển không được ổn định. Trong sản xuất nông nghiệp, lượng lương thực giảm sẽ đẩy giá bán cao lên, số người nghèo gia tăng, người suy dinh dưỡng ngày càng nhiều...cũng tác động bất lợi đến ngư dân. Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội như xóa đói nghèo. Mức sống dân cư ở khu vực này thấp, tỷ lệ đói nghèo cao... 

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article