Nhiệt độ tăng cũng làm cho nguồn thức ăn của cá bị suy giảm. Tác động của BĐKH đối với nghề cá phụ thuộc vào chuỗi thức ăn đại dương, chuỗi này sẽ bị rối loạn khi khí hậu thay đổi.

(1) Khai thác và nuôi trồng thủy sản

Có sự suy giảm nguồn lợi hải sản trong những năm qua, nhất là vùng ven bờ. Nguyên nhân của sự suy giảm có nhiều nhưng BĐKH đã có tác động nhất định. Hiện tượng san hô chết hàng loạt ở khu vực Miền Trung Việt Nam là một ví dụ. Có một số loài cá khác phát triển tốt hơn khi nhiệt độ tăng lên nhất là các vùng ở phía bắc trong khi sản lượng tôm đánh bắt ở khu vực phía bắc sẽ giảm.

Nhiệt độ tăng cũng làm cho nguồn thức ăn của cá bị suy giảm. Tác động của BĐKH đối với nghề cá phụ thuộc vào chuỗi thức ăn đại dương, chuỗi này sẽ bị rối loạn khi khí hậu thay đổi. Tác động bất lợi trong việc nâng cao giá trị nghề cá là oxy trong nước sẽ thấp hơn vì nhiệt độ bề mặt nước tăng lên. Ở vùng đồng bằng, mưa trong mùa lũ có thể làm giảm khả năng sinh đẻ, phát tán, phát triển của cá. Sự thay đổi trong tương lai của đại dương về các yếu tố như mực nước biển, nhiệt độ, độ mặn, tốc độ và hướng gió, độ dày trầm tích sẽ ảnh hưởng lớn tới thủy sinh vật, quá đó tác động đến khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cá.

Nghề khai thác vẫn luôn được xem là một trong những nghề rủi ro nhất ngay cả khi chưa có tác động của BĐKH. Đến nay, dưới nguy cơ và ảnh hưởng ngày càng mạnh của BĐKH thì khai thác thủy sản lại càng rủi ro hơn.

Nghề khai thác có truyền thống lâu đời, cha truyền con nối. Cuộc sống của ngư dân từ bao đời nay đều gắn với biển, phục thuộc hoàn toàn vào điều kiện thiên nhiên. Ngư dân ít có sự lựa chọn về sinh kế. Ngoài đánh cá ra, họ không có nhiều cơ hội tiếp xúc và chuyển đổi nghề. Chính vì vậy, khi BĐKH xảy ra, nó sẽ gây ra không ít khó khăn cho cộng đồng ngư dân. Đây sẽ là nhóm người bị tác động đầu tiên và chịu áp lực nhiều nhất liên quan đến sinh kế.

Đối với nuôi trồng thủy sản, đặc biệt nuôi trồng vùng ven bờ, trên biển, đảo chịu tác động thường xuyên, khốc liệt của thiên tai và BĐKH. Biểu hiện nổi bật là tác động của nhiệt độ tăng. Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng của các loài sinh vật nói chung và các loài thủy sản nói riêng. Ở các vùng nhiệt đới, hiện tượng nắng nóng làm cho nhiệt độ nước tăng lên quá mức chịu đựng của nhiều loài sinh vật. Thay đổi nhiệt còn là điều kiện phát sinh của nhiều loài dịch bệnh xảy ra cho các loài nuôi. Nhiệt độ tăng cao làm ảnh hưởng tới sức khỏe của các loài nuôi. Nhiệt độ cao cũng làm cho môi trường nước xấu, tạo điều kiện cho các loài vi sinh vật gây hại phát triển.

Dịch bệnh xuất hiện ngày càng nhiều: Trong những năm gần đây do môi trường sống bị suy thoái kết hợp với sự thay đổi khắc nghiệt của thời tiết, khí hậu, dẫn đến bùng phát dịch bệnh làm chết hàng loạt tôm sú, tôm hùm ở Miền Trung và Nam Bộ…. Các bệnh này xảy ra và lan truyền rộng, khó chữa và mức độ rủi ro lớn. Ghi nhận dịch bệnh gây thiệt hại khoảng 700 tỷ đồng đối với tôm hùm nuôi tại Nam Trung Bộ vào năm 2008.

Thiên tai do mưa, bão đã gây ra những thiệt hại to lớn về người và tài sản đối với nghề khai thác hải sản. Từ năm 1996-2001, nghề khai thác hải sản  liên tiếp phải hứng chịu các đợt thiên tai lớn và đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng về người và của, tổn thất về mặt kinh tế lên đến hàng trăm tỷ đồng:

- Tháng 8/1996: Áp thấp nhiệt đới trên vùng biển Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa đã làm 113 ngư dân bị thiệt mạng, hàng chục tàu thuyền bị chìm.

- Tháng 11/1997: Bão Linda đổ bộ vào bán đảo Cà Mau, Kiên Giang đã làm chết và mất tích trên 3.000 người, trên 3.600 tàu thuyền đánh cá của ngư dân bị đắm và hư hỏng.

- Năm 1998: Các áp thấp nhiệt đới và bão số 4, 6, 8 đổ bộ vào các tỉnh miền Trung đã làm 100 ngư dân bị chết và mất tích, 450 tàu thuyền bị đắm và hư hỏng.

- Năm 1999: Đợt lũ quét cuối tháng 7 tại Bình Thuận làm 70 tàu bị chìm và bị trôi, 50 ngư dân bị chết. Đầu tháng 11 và tháng 12/1999 áp thấp nhiệt đới gây mưa to, lũ lớn ở 7 tỉnh miền Trung đã làm 1.282 tàu tuyền bị chìm và bị trôi, 50 ngư dân bị chết.

- Năm 2001: Bão số 8 đổ bộ vào 3 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên làm 32 ngư dân bị chết, 853 tàu thuyền bị đắm và hư hỏng.

- Năm 2006: 10 cơn bão khác nhau có cường độ mạnh kết hợp các đợt gió mùa Đông Bắc kéo dài và những hiện tượng bất thường khác đã tác động đáng kể đến khai thác và nuôi trồng thủy sản. Hàng ngàn phương tiện hoạt động trên biển, ao đầm của ngư dân chịu ảnh hưởng, gây ra tổn thất về người và tài sản. Chỉ tính riêng hai cơn bão Chanchu và Xangsane đã ảnh hưởng trực tiếp và gây thiệt hại nặng nề cho ngành thuỷ sản khu vực ven biển miền Trung: 3.974 ha đầm nuôi cá, tôm bị ngập, làm thiệt hại 494 tấn tôm, cá, 951 tầu thuyền đánh cá bị chìm, ước tính thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng. Cơn bão số 9 (Durian) cũng gây thiệt hại lớn về người và vật chất đối với ngư dân Nam Trung Bộ. Theo thống kê, trong một ngày tàn phá, cơn bão đã cướp đi sinh mạng và làm mất tích trên 70 người, hàng nghìn người bị thương, hàng trăm tàu thuyền bị nhấn chìm, hàng nghìn công trình dân dụng bị tốc mái, sập đổ, hư hỏng nặng.

- Năm 2007: Xuất hiện liên tục các đợt lũ suốt từ tháng 5 đến tháng 8 tại khu vực miền Trung từ Hà Tĩnh đến Quảng Nam khiến cho các vùng nuôi thủy sản bị ngập chìm kéo dài, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của nông ngư dân. Tháng 11/2007, do ảnh hưởng của bão số 7, áp thấp nhiệt đới trên biển Đông và ảnh hưởng của gió mùa đông bắc hoạt động mạnh đã làm hạn chế các hoạt động khai thác thuỷ sản cũng như tác động bất lợi đến nuôi trồng thủy sản tại các địa bàn quan trọng về sản xuất giống và nuôi hải sản. Do ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu thay đổi trong thời gian vừa qua, như mưa nhiều, lũ lụt khiến cho nguồn nước thay đổi chất lượng nhanh, dịch bệnh phát triển dẫn đến hiện tượng tôm hùm, rong sụn bị chết hàng loạt tại Nam Trung Bộ, làm thiệt hại hàng trăm tỷ đồng, hàng ngàn hộ ngư dân lâm vào cảnh nợ nần, trắng tay trong sản xuất.

- Ngay từ đầu năm 2008 cũng đã xuất hiện liên tục 2 cơn bão, làm cho các tỉnh từ Phú Thọ đến Yên Bái ngập lụt diện rộng, dẫn đến sản xuất nông nghiệp và thủy sản chịu thiệt hại nặng nề.

Tùy theo quy mô và các trang thiết bị trên tàu, trung bình ước tính chí phí thấp nhất đầu tư cho mỗi tàu công suất nhỏ từ 40-90 cv là 100-200 triệu/tàu (bao gồm cả máy, tàu, lưới và các trang thiết bị khác). Như vậy, mỗi thuyền bị đánh đắm hay phá hủy do bão, ngư dân nghề cá nhỏ sẽ thiệt hại hàng trăm triệu đồng, họ có nguy cơ mất trắng, phá sản và trở thành con nợ của các ngân hàng, đầu nậu… Ngoài ra, nếu không có sự trợ giúp hay hỗ trợ nào, họ sẽ không có cơ hội để khôi phục lại hoạt động khai thác, lâm vào hoàn cảnh thất nghiệp, đời sống vật chất và tinh thần gặp khó khăn.

(2) Chế biến, dịch vụ hậu cần và cơ sở hạ tầng thủy sản

Tác động của BĐKH không trừ đất nước nào, dù cho nước đó không góp nhiều vào nguyên nhân gây biến đổi khí hậu. Việt Nam là nước đang phát triển nằm trong nhóm nước dễ bị tổn thương trước mực nước biển dâng cao. Hậu quả của mực nước biển dâng làm hệ thống đê biển không thể chống chọi được với nước dâng do bão như thiết kế dẫn đến nguy cơ vỡ đê.  Mực nước biển dâng cao làm thay đổi chế độ động lực của sóng và dòng chảy ven bờ, làm thay đổi hình thái bờ biển và sông, gây xói lở bờ và hệ thống đê biển. Mực nước biển dâng cao làm cho khả năng tiêu thoát nước ra biển sẽ giảm, kéo theo mực nước các con sông trong nội địa dâng lên, kết hợp với sự gia tăng dòng chảy lũ từ thượng nguồn sẽ đe dọa sự an toàn của hệ thống đê sông, đê bao và bờ bao. Tất cả nguy cơ này đe doạ đến sự tồn tại của các cộng đồng ven biển, các hệ sinh thái và các cơ sở hạ tầng có tầm quan trọng quốc gia. Đây lại là những vùng có mật độ cao các làng cá quy mô nhỏ, nơi cư trú của hàng vạn hộ gia đình ngư dân,  nơi tập trung cơ sở hạ tầng du lịch, nghề nuôi trồng và chế biến thủy sản, sẽ bị sóng phá hủy. Khi có sự cố xẩy ra đổi với hệ thống đê biển này, đối tượng đầu tiên chịu tác động không ai khác chính là ngư dân, đặc biệt là bộ phận có thu nhập thấp, sản xuất nhỏ. Ngoài việc phá hủy cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu cống, hệ thống sản xuất dịch vụ trong khai thác và NTTS, BĐKH và thiên tai còn làm thiệt mạng hàng trăm ngư dân mỗi năm do bão, lũ lụt, triều cường…

Mực nước biển dâng cao kèm theo mưa bão lớn hơn có thể sẽ gây ngập lụt các tuyến đường sắt ở vùng duyên hải, sân bay, phá huỷ cầu cống và hệ thống ống dẫn. Tại nhiều nơi, các công trình cơ sở hạ tầng như giao thông, đê biển, cống ngăn mặn… được xây dựng căn cứ vào các dữ liệu khí hậu lịch sử và không còn phù hợp trong điều kiện BĐKH, vì vậy nguy cơ tổn thất là rất lớn. Điều này đã được chứng minh sau các trận nước biển dâng kèm theo mưa bão trong vài năm trở lại đây ở miền Trung.

BĐKH cũng gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đối với cơ sở hạ tầng các cảng cá, nơi neo đậu tránh trú bão, các trạm xăng dầu ven biển và tàu thuyền của ngư dân.

Theo thống kê, Việt Nam có 20 công trình cảng cá trung tâm vùng lãnh thổ, 84 công trình cảng cá địa phương và 101 công trình bến cá. 28 tỉnh ven biển đều có khu vực dành riêng cho tàu thuyền tránh trú bão.

Hiện nay, 8 khu neo đậu đã được thí điểm xây dựng là Thọ Quang (Đà Nẵng), Cát Bà (Hải Phòng), Lạch Hới (Thanh Hoá), Hòn La (Quảng Bình), Tam Quang (Bình Định), Phú Hải (Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa-Vũng Tàu), Sông Đốc (Cà Mau) với tổng đầu tư từ ngân sách Nhà nước lên đến hàng trăm tỷ đồng.

Trong bối cảnh BĐKH, các cảng cá, khu tránh trú bão, neo đậu tàu thuyền sẽ chịu tác động dẫn đến thiệt hại về vật chất và đòi hỏi có đầu tư thích hợp với các diễn biến của BĐKH.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article