Đã ban hành Luật Thủy sản. Các văn bản pháp quy về quản lý các tiêu chuẩn ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm và thủy sản tương đương với các quy định của CODEX, WTO và Quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm (Code of conduct for responsible fisheries)

(1)Cơ chế chính sách ngành thủy sản

Đã ban hành Luật Thủy sản. Các văn bản pháp quy về quản lý các tiêu chuẩn ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm và thủy sản tương đương với các quy định của CODEX, WTO và Quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm (Code of conduct for responsible fisheries). Đồng thời xây dựng hệ thống quản lý tăng cường năng lực cho cơ quan thanh tra, kiểm tra chất lượng an toàn vệ sinh từ Trung ương đến địa phương nhằm kiểm soát từ khâu sản xuất đến thu mua, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm.

Các cán bộ quản lý cũng như các doanh nghiệp thủy sản từng bước được tiếp cận với các hệ thống quản lý nghề cá, các luật lệ, thông tục, thủ tục thương mại của các nước trên thê giới.

Luật Thuỷ sản có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2004 (văn bản này thay thế Pháp lệnh Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản). Đây là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất của ngành thủy sản, điều chỉnh toàn diện các lĩnh vực hoạt động thủy sản bao gồm: Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; Khai thác thủy sản; Nuôi trồng thủy sản; Quản lý tàu cá và cơ sở dịch vụ hoạt động thủy sản; Chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản; Hợp tác quốc tế về hoạt động thủy sản; Quản lý nhà nước về thủy sản.

Đến nay, tám Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Thủy sản đã được Chính phủ ký ban hành và đã có hiệu lực thi hành. Công tác xây dựng các văn bản cấp bộ hướng dẫn thi hành các Nghị định của Chính phủ cũng được triển khai. Nhiều văn bản đã được Bộ trưởng ký ban hành.

Luật Thủy sản ra đời đã quy định đầy đủ hơn, cụ thể hơn so với Pháp lệnh Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản về phạm vi điều chỉnh và lần đầu tiên quy định về các vấn đề: Quản lý đối với khu bảo tồn vùng nước nội địa, khu bảo tồn biển; Quỹ tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, nguồn tài chính tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản; Bảo hiểm hoạt động thuỷ sản, trong đó vừa có loại cần được khuyến khích bảo hiểm, vừa có loại bắt buộc phải tham gia bảo hiểm như bắt buộc bảo hiểm đối với thuyền viên làm việc trên tàu cá khai thác hải sản xa bờ; Báo cáo khai thác thủy sản và ghi nhật ký khai thác thủy sản; Quy hoạch phát triển thuỷ sản; Giao, cho thuê mặt nước biển để nuôi trồng thuỷ sản; Đăng ký, đăng kiểm tàu cá; Chợ thủy sản đầu mối; Khai thác thủy sản ở ngoài vùng biển Việt Nam; Tàu cá nước ngoài hoạt động thủy sản trong vùng biển Việt Nam.

Luật Thủy sản là cơ sở pháp lý để phân định trách nhiệm, tránh chồng chéo và có cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành có liên quan như: giữa ngành Thủy sản với ngành Du lịch, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Quốc phòng….

Quá trình xây dựng và thực thi Luật Thủy sản, năng lực và nhận thức của cán bộ quản lý ở Trung ương, địa phương và của người dân được nâng cao.

Tuy nhiên, cần tiếp tục triển khai đồng bộ xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn, cũng như đề xuất hoàn thiện Luật, các văn bản hướng dẫn dưới Luật.

Một số bất cập nảy sinh đã được phát hiện, để xử lý là: Việc cấp giấy đăng ký cho tàu cá hoạt động thủy sản còn vướng mắc (để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá, chủ tàu cá phải nộp thuế trước bạ nhưng thực tế người dân lại rất nghèo, ý thức chấp hành thấp dẫn đến số lượng tàu cá đã đăng ký còn ít...); Báo cáo khai thác và ghi nhật ký khai thác là nội dung rất cần thiết và phù hợp với thông lệ quốc tế, tuy vậy triển khai thực hiện trên thực tế còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu; Việc giao, cho thuê mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản còn vướng mắc về kỹ thuật cũng như phân công quản lý nhà nước (Mặt nước để nuôi trồng thủy sản được định nghĩa là vùng nước biển được quy hoạch để nuôi trồng thủy sản, tính từ đường mép nước biển triều kiệt trung bình trong nhiều năm trở ra. Nhưng công tác xây dựng và phổ biến thực hiện quy hoạch còn chậm. Thẩm quyền giao, cho thuê mặt nước biển còn phải được cân nhắc khi quy định có sự tham gia của ngành chuyên môn, cơ quan quản lý đất đai, cũng như phân cấp của địa phương...)

Đối với nuôi trồng thủy sản, có Quyết định số 224/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 8/12/1999 phê duyệt Chương trình phát triển NTTS thời kỳ 1999-2010 với mục tiêu “Phát triển NTTS nhằm đảm bảo an ninh thực phẩm và tạo nguồn nhiên liệu chủ yếu cho xuất khẩu, phấn đấu đến năm 2010 đạt sản lượng trên 2 triệu tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu trên 2,5 tỷ USD,  tạo việc làm và thu nhập cho khoảng 2 triệu lao động, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế xã hội đất nước và an ninh ven biển”. Kết quả thực hiện vượt về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu, cũng như vượt một số các chỉ tiêu cụ thể khác.

Chính phủ ra Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, cho phép chuyển diện tích đất nông nghiệp kém hiệu quả sang phát triển NTTS đã tạo điều kiện bước ngoặt chuyển hàng trăn ngàn ha làm muối, trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản đạt hiệu quả kinh tế và xã hội cao hơn. 

Chương trình 224 nêu trên và Nghị quyết 09 là những chính sách quan trọng, tạo hành lang pháp lý, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và NTTS nói riêng, thúc đẩy sản xuất NTTS phát triển trên phạm vi cả nước, trong đó có hai vùng châu thổ quan trọng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long.

Đối với công tác đảm bảo giống thuỷ sản, có Quyết định 103/2000/QĐ-TTg về Một số chính sách khuyến khích phát triển giống thuỷ sản và Quyết định 112/2004/QĐ-TTg về Phê duyệt Chương trình phát triển giống thuỷ sản đến năm 2010. Kết quả thực hiện đã hình thành hệ thống sản xuất giống từ trung ương tới địa phương, tạo ra mạng lưới cung cấp ngày càng đa dạng về số lượng, chủng loại, cũng như nâng cao chất lượng con giống đưa ra thị trường. Được sự quan tâm của các cấp chính quyền, công tác kiểm dịch, quản lý trại tôm, cá giống được coi trọng.

Về bao tiêu sản phẩm: Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 80/2002/QĐ-TTg về thực hiện chính sách bao tiêu sản phẩm thông qua hợp đồng. Tuy vậy, kết quả thực hiện còn hạn chế. Việc liên kết “bốn nhà” (Nhà nông, doanh nghiệp, nhà nước và nhà khoa học) còn có bất cập.

- Chính sách thuế

Nhằm khuyến khích phát triển đội tàu xa bờ, Chính phủ đã bãi bỏ thuế khai thác tài nguyên và thuế thu nhập doanh nghiệp cho tàu thuyền khai thác thủy sản, giảm 50% thuế trước bạ cho việc đóng mới, thay mới cho tàu đánh cá xa bờ.

Các dự án, chương trình về xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm thủy sản khai thác và nuôi trồng của Việt Nam đã được triển khai.

Chính phủ đã đầu tư, tham gia các tổ chức tiêu chuẩn thế giới về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường... nhằm đạt được các chứng chỉ quốc tế, tạo thuận lợi cho hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang các thị trương truyền thống và tiềm năng.

Về vốn đầu tư cho ngành thuỷ sản, theo Quyết định 02/2001/QĐ-TTg về Chính sách hỗ trợ đầu tư từ Quỹ Hỗ trợ phát triển đối với các dự án sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu và các dự án sản xuất nông nghiệp, theo đó các dự án nuôi trồng thuỷ sản khi được xem xét là có hiệu quả và khả năng trả nợ sẽ được quyết định mức cho vay nhưng tối đa không được quá 90% tổng số vốn đầu tư của dự án. Ngoài ra đối với các dự án thuộc Chương trình khuyến khích phát triển nuôi trồng thuỷ sản (Chương trình 224) và Chương trình khuyến khích phát triển giống thuỷ sản đến năm 2010 (Chương trình 112) còn được đầu tư cho quy hoạch và rà soát điều chỉnh quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản và giống thuỷ sản, xây dựng các khu bảo tồn biển, bảo tồn thuỷ sản nội địa.

Các chính sách huy động vốn cho phát triển sản xuất thủy sản cũng được quan tâm xây dựng và thực thi.

- Cung cấp vốn tín dụng trong nuôi trồng thủy sản

Nhiều chính sách của Nhà nước  liên quan đến cung cấp vốn tín dụng cho phát triển nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi biển đảo nói riêng đã được xây dựng và áp dụng: Chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông thôn theo quyết định số 67/1999/QĐ-TTg ngày 30 tháng 3 năm 1999; Chính sách bảo đảm tiền vay cho các tổ chức tín dụng thể hiện trong các Nghị định số 178/1999/NĐ-CP và 85/2002/NĐ-CP của Chính phủ; Quyết định số 284/QĐ-NHNNI của Thống đốc ngân hàng Nhà nước về quy chế cho vay; Quyết định 423/2000/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN về chính sách cho vay đối với các trang trại; Công văn số 934/CV-NHNN hướng dẫn thực hiện quyết định số 103/2003/QĐ-TTg về một số chính sách phát triển giống thủy sản,…

Các ngân hàng thương mại đã có hoạt động cho vay vốn phát triển nuôi trồng thủy sản. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đã phối hợp với Bộ quản lý chuyên ngành đưa ra các giải pháp giải quyết vốn tín dụng cho nuôi trồng thủy sản. Các hộ dân ở nông thôn tham gia nuôi trồng thủy sản đã được vay vốn tín dụng hoặc vay từ các nguồn tài chính khác theo các kênh chính thức và không chính thức. Những kênh cho vay vốn chính thức hiện nay chủ yếu gồm Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (VBARD), Ngân hàng Công thương (CIB), Ngân hàng Chính sách Xã hội. Các kênh cho vay không chính thức là các thành viên trong gia đình và bạn bè, chủ yếu cung cấp dịch vụ vay vốn và thế chấp tài sản. Vốn vay từ ngân hàng hàng chục ngàn tỷ đồng đã góp phần quan trọng giúp nông ngư dân có vốn đầu tư xây dựng, mua sắm trang thiết bị, con giống, thức ăn và các vật tư khác phục vụ nuôi trồng thủy sản.

Nhờ những chính sách cho vay tín dụng lãi suất thấp từ Ngân hàng Chính sách, với những khoản vay nhỏ đã giúp cho nông dân đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, các nguồn vốn vay nhỏ chưa thực sự đáp ứng đối với sản xuất thủy sản do đặc thù thời vụ và quy mô lớn hơn so với các hoạt động nông nghiệp khác.

Chính sách vay vốn phục vụ phát triển giống cho NTTS chưa được thực thi một cách hiệu quả. Mặc dù số lượng trại giống tăng nhanh, nhưng việc thực hiện chính sách theo tinh thần Quyết định 103 chậm được triển khai. Lãi suất tiền vay và thời gian vay vốn theo quy định hiện hành, mức vay dưới 50 triệu đồng thì không phải thế chấp đều chưa phát huy tác dụng.

Chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ lĩnh vực thủy sản đã được quan tâm. Cụ thể, đã triển khai chủ trương chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp nhằm giảm áp lực khai thác vùng gần bờ và ven bờ, phát triển các đội tàu khai thác xa bờ; chuyển một bộ phận sang NTTS và làm dịch vụ để duy trì lực lượng khai thác hớp lý vùng bờ, bảo về và tái tạo nguồn lợi. Nhà nước đã có chính sách hỗ trợ ngư dân vay vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi để đóng tàu có công suất lớn hơn hoạt động khai thác ở vùng xa bờ, đảm bảo ổn định sản lượng thủy sản có chất lượng cung cấp cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, duy trì cuộc sống của cộng đồng ngư dân ven biển. Nhờ chính sách đúng đắn này, nhiều ngư dân có kinh nghiệm và năng lực đã mạnh dạn vay vốn, đầu tư để đóng mới tàu có công suất lớn, chuyển đổi kỹ thuật khai thác để nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm không chỉ trực tiếp cho ngư dân làm nghề mà còn cho một bộ phận lớn những người cung ứng dịch vụ trên bờ.

Các chính sách hỗ trợ và ưu đãi về vốn, dạy nghề, chuyển đổi nghề... đã phát huy tác dụng, nhiều hộ ngư dân bị mất thuyền, lưới, ao đầm sau bão, lũ đã có cơ hội khôi phục hoặc chuyển đổi nghề,  vươn lên thoát nghèo và làm giàu.

Cũng thông qua thực hiện các chính sách hỗ trợ của chính phủ về vốn, cơ sở hạ tầng mà ngành thủy sản đã từng bước được hiện đại hóa.

- Chính sách khuyến ngư

Hệ thống khuyến nông-khuyến ngư được hình thành từ trung ương đến địa phương. Đầu tư tập huấn kiến thức, xây dựng mô hình sản xuất, cung cấp tài liệu, tham quan học hỏi các điển hình được tăng cường...

Thông qua công tác khuyến nông, khuyến ngư, các đối tượng mới, công cụ mới, kỹ thuật mới được áp dụng; ngư dân được tập huấn nâng cao trình độ nghề nghiệp, được cung cấp tài liệu và xây dựng mô hình sản xuất có hiệu quả về kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường.

Mặc dù theo Khoản 1, 2 Điều 11 Chương III của Nghị định 56 về Khuyến nông, tại mỗi xã, phường, huyện thị đều phải có cán bộ khuyến nông, nhưng chưa chi tiết cho hoạt động khuyến ngư.

Thông tư 01/2005/TTLB-BTS-BNV đã nói rõ phải có biên chế cho các cơ quan chuyên môn về thủy sản giúp việc UBND tỉnh, huyện nhưng chưa được triển khai thực hiện đầy đủ trên thực tế.

- Chính sách hỗ trợ thiên tai

Hàng năm, chính phủ cung cấp ngân sách để khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra. Đầu tư hệ thống tìm kiếm cứu nạn cấp vùng và đến cộng đồng ngư dân. Ngư dân được cấp khoản tín dụng với lãi suất ưu đãi để sửa chữa, đóng mới tàu thuyền nhằm khôi phục sản xuất, đảm bảo sinh kế và đời sống sau thiên tai.

Việc thực hiện chính sách hỗ trợ thiên tai đã góp phần làm giảm nhẹ thiệt hại, xoa dịu nỗi đau của cộng đồng ngư dân.

(2) Tổ chức quản lý ngành thủy sản

Ngành thủy sản là ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động mang tính chất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ, cơ cấu thành một hệ thống thống nhất có liên quan chặt chẽ với nhau. Hoạt động sản xuất về khai thác, đóng sửa tàu thuyền, sản xuất ngư lưới cụ và các thiết bị chế biến, bảo quản thủy sản trực thuộc công nghiệp nhóm A; khu vực chế biến thủy sản thuộc công nghiệp nhóm B; xuất khẩu thủy sản và các dịch vụ hậu cần như cung cấp vật tư và chuyên chở thuộc nhóm ngành dịch vụ; nuôi trồng thủy sản có những đặc tính của ngành nông nghiệp. Hiện ngành thủy sản đã được đặt dưới sự quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Ở cấp tỉnh, Sở Thủy sản trước đây và nay là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cơ quan trực thuộc UBND tỉnh, được giao quản lý nhà nước về thủy sản tại địa phương. Cơ quan chuyên ngành ở Bộ Nông nghiệp và PTNT là Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, cơ quan quản lý thuộc Sở NN&PTNT là Chi cục thủy sản, Phòng Thủy sản...

Hệ thống khuyến ngư đã có từ trung ương đến địa phương. Tuy vậy, cần triển khai sâu rộng hơn đến huyện, thị và xuống cấp xã... Đội ngũ làm công tác khuyến ngư còn mỏng.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article