Theo kết quả sơ bộ của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số cả nước tại thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009 là 85,789 triệu người.

(1) Dân số

Theo kết quả sơ bộ của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số cả nước tại thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009 là 85,789 triệu người. Tốc độ tăng dân số bình quân thời kỳ 1999-2009 là 1,2%. Trong tổng dân số, dân số thành thị 25,4 triệu người, chiếm 29,6% tổng dân số; dân số nông thôn 60,4 triệu người, chiếm 70,4%; dân số nam 42,5 triệu người, chiếm 49,5% tổng dân số; dân số nữ 43,3 triệu người, chiếm 50,5%. Tỷ lệ giới tính của dân số năm 2009 ở mức 98,1 nam trên 100 nữ.

Kết quả tổng điều tra dân số cũng cho thấy, dân số Việt Nam phân bố không đều và có sự khác biệt lớn theo vùng. Hai vùng Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long có tới 43% dân số của cả nước sinh sống. Hai vùng trung du, miền núi phía Bắc và vùng Tây Nguyên chỉ có 19% dân số cả nước sinh sống.

Tỷ lệ tăng dân số ở khu vực thành thị vẫn ở mức cao. Dân số ở thành thị hiện chiếm 29,6% tổng dân số cả nước, tăng bình quân 3,4%/năm; trong khi tỷ lệ tăng dân số ở khu vực nông thôn chỉ là 0,4%/năm. Đông Nam Bộ là vùng có mức độ đô thị hóa cao nhất với dân số thành thị chiếm 57,1%; tiếp đến là vùng Đồng bằng Sông Hồng có mức độ đô thị hóa tương đối cao với 29,2% dân số sống ở thành thị.

(2) Lao động

Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số trong độ tuổi lao động cả nước là 55 triệu người, trong đó 45,2 triệu người thuộc lực lượng lao động trong độ tuổi, chiếm 82,2% tổng dân số trong độ tuổi lao động. Số lao động trong độ tuổi đang làm việc là 43,9 triệu người, chiếm 51,1% tổng dân số, bao gồm: lao động khu vực thành thị gần 12 triệu người, chiếm 27% tổng lao động trong độ tuổi đang làm việc; lao động khu vực nông thôn 31,9 triệu người, chiếm 73%. Tại thời điểm điều tra, cả nước có 1,3 triệu lao động trong độ tuổi thất nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp là 2,9% (cao hơn mức 2,38% của năm 2008), trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 4,64%, xấp xỉ năm 2008; khu vực nông thôn là 2,25%, cao hơn mức 1,53% của năm 2008.

Nhìn chung cơ cấu lao động trong lĩnh vực thủy sản so với các ngành khác chiếm tỷ lệ rất thấp.

Theo thống kê, số lượng lao động khai thác hải sản tăng từ 270.587 người (năm 1999) lên khoảng gần 700.000 người (năm 2007), bình quân mỗi năm tăng 23.155 người, trong đó bao gồm cả lao động đánh cá bán chuyên nghiệp. Nếu xét các loại nghề khai thác gần bờ, trừ nghề lưới rùng bờ sử dụng nhiều lao động đánh cá bán chuyên. Các loại nghề khác sử dụng thuyền thủ công và tàu thuyền công suất nhỏ nên số lao động đánh cá bình quân 2-5 người/1 đơn vị tàu thuyền. Tuy không có số liệu chính xác nhưng ước lượng số lao động khai thác hải sản gần bờ khoảng 40% tổng số lao động đánh cá. Nhưng nếu xét trên số tàu thuyền đánh cá được phép hoạt động xa bờ bao gồm tàu từ trên 90 cv trở lên và số tàu có công suất 50-90 cv làm các nghề câu, rê, vây, chụp mực, thì số tàu thuyền hoạt động ở tuyến gần bờ gồm toàn bộ 11.000 thuyền thủ công và 70% số tàu thuyền máy thì số lao động đánh cá phải chiếm tới 60%.

Trong thời gian qua, số hộ tham gia NTTS ngày càng tăng từ 0,51 triệu hộ năm 2001 đến 0,69 triệu hộ năm 2006, đưa tốc độ tăng trưởng bình quân năm 5%/năm. Tổng số lao động thủy sản năm 2006 đạt 1,4 triệu người, chiếm 4,56% tổng số lao động Nông Lâm và Thủy sản, tăng 1,1% so với năm 2001, trong khi lao động nông nghiệp giảm 10,4%/năm.

Theo số liệu thống kê, tại Việt Nam tỷ lệ lao động có trình độ học vấn trung học cơ sở trở lên là 56,7% so với tổng số lao động trong độ tuổi, trong đó tỷ lệ lao động có trình độ trung học phổ thông trở lên là 27,8%. Lực lượng lao động trong độ tuổi có trình độ đại học trở lên chiếm 5,3%, trong đó thành thị 14,4%; nông thôn 1,8%; nam 5,6%; nữ 5%.

Cũng theo thống kê, tại Việt Nam trình độ học vấn của ngư dân vẫn còn thấp, với 68% chưa tốt nghiệp tiểu học, hơn 20% tốt nghiệp tiểu học, khoảng gần 10% có trình độ trung học cơ sở và 0,65% có bằng ở các trường dạy nghề hoặc đại học. Với trình độ học vấn thấp, ngư dân gặp khó khăn trong việc tiếp thu kỹ thuật mới, nhất là kỹ thuật khai thác xa bờ. Hệ quả tất yếu là dù sản lượng khai thác hải sản liên tục tăng nhưng chất lượng sản phẩm khai thác được thường có kích thước nhỏ, có chất lượng thấp, cá tạp chiếm tỷ lệ cao.

(3) Năng suất lao động

Bảng 4.5. Năng suất lao động xã hội phân theo ngành kinh tế (*)

 Triệu đồng/người

 

2000

2004

2005

2006

2007

Sơ bộ 2008

TỔNG SỐ

111,7

17,2

19,7

22,5

25,9

32,9

Nông nghiệp và lâm nghiệp

4,0

5,6

6,3

7,2

8,4

12,2

Thuỷ sản

15,1

19,6

22,2

24,6

28,2

34,7

Công nghiệp khai thác mỏ

166,6

223,5

260,5

269,5

281,0

306,1

Công nghiệp chế biến

23,1

30,1

33,0

36,6

40,8

49,5

Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước

169,2

182,9

191,1

193,0

202,4

212,1

Xây dựng

22,7

23,2

26,7

30,2

35,1

40,0

Thương nghiệp; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy, đồ dùng cá nhân và gia đình

16,1

20,3

23,1

26,0

29,6

38,1

Khách sạn và nhà hàng

20,9

29,8

38,2

45,8

55,3

78,0

Vận tải; kho bãi và thông tin liên lạc

14,8

25,3

30,3

36,1

42,0

54,9

Tài chính, tín dụng

108,4

102,0

96,4

96,3

98,9

123,7

Hoạt động khoa học và công nghệ

124,7

172,6

214,2

233,0

262,6

342,8

Các HĐ liên quan đến KD tài sản và dịch vụ tư vấn

300,0

241,4

222,2

206,0

201,4

213,7

QLNN và ANQP, đảm bảo xã hội bắt buộc

32,1

35,6

35,5

37,3

39,5

47,3

Giáo dục và đào tạo

14,9

19,7

21,8

23,6

25,7

27,5

Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội

226,6

31,5

34,5

37,8

42,0

46,5

Hoạt động văn hoá và thể thao

119,4

28,7

31,3

34,4

38,1

44,4

Các hoạt động Đảng, đoàn thể và hiệp hội

9,6

7,0

7,1

7,1

7,4

8,5

Hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng

21,9

25,3

24,0

25,1

26,6

31,9

(*) Tổng sản phẩm trong nước/Giá trị tăng thêm theo giá thực tế bình quân 1 lao động đang làm việc.

(Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2009)

(4) Cơ cấu thu nhập

Cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình rất đa dạng, ngày càng phân hóa tùy theo điều kiện sản xuất và mức độ tích lũy của mỗi thành phần kinh tế và mỗi hộ gia đình.

Sự phân hóa giàu nghèo trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thủy sản cũng thể hiện rõ nét. Các hộ gia đình khá giả thường là các chủ thuyền đánh cá xa bờ có công suất lớn và thuê lao động (đi bạn), những người có vốn lớn nuôi tôm công nghiệ , chủ các bè cá lớn, chủ các trại giống tôm hoặc chủ các cơ sở, doanh nghiệp chế biến xuất khẩu. Các hộ nuôi trồng thủy sản nước ngọt có thu nhập cao còn ít. Trong những năm gần đây, nhiều hộ nuôi cá tra và basa ở đồng bằng sông Cửu Long đã có mức sống và thu nhập cao hơn. Các hộ nghèo thường là các gia đình làm nghề cá quy mô nhỏ, khai thác tại ngư trường ven bờ, lao động đánh cá làm thuê, không có nguồn thu nhập khác từ nghề phụ, không có vốn để phát triển sản xuất, gặp rủi ro trong NTTS.

(5) Cơ cấu nguồn vốn trong sản xuất thủy sản

Các nguồn vốn chính duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh trong ngành thủy sản gồm: Nguồn vốn ngân sách; Nguồn vốn tín dụng ngân hàng; Nguồn vốn tự có; Nguồn vốn nước ngoài; Nguồn vốn từ các dự án/chương trình; Nguồn vốn tư thương/nậu vựa.

Hiện nay, nguồn vốn từ ngân sách còn hạn chế, chủ yếu cấp cho các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng như cầu cảng, bến bãi, đường giao thông, cơ sở hạ tầng trong các dự án đầu tư xây dựng vùng nuôi tập trung...

Nguồn vốn từ tín dụng ngân hàng chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu của ngư dân. Mặt khác, để tiếp cận được nguồn vốn này, ngư dân cần đáp ứng một số yêu cầu về thủ tục tín chấp, thế chấp; số lượng vốn vay không nhiều.

Nguồn vốn tư thương/nậu vựa hiện đang đáp ứng được nhu cầu khát vốn của bà con ngư dân. Tuy tỷ lệ lãi vay cao nhưng thủ tục đơn giản, số lượng vốn cho vay lớn. Ngoài ra, tư thương/nậu vựa vừa là người cho vay đồng thời cũng là người bao tiêu sản phẩm cho người sản xuất. Họ luôn đi sát người sản xuất, đáp ứng kịp thời những nhu cầu phát sinh. Hiện nay, các hộ gia đình đều hài lòng với mối quan hệ giữa tư thương/nậu vựa với người sản xuất.

(6) Các vấn đề xã hội tác động đến ngành thủy sản

Nghề khai thác hải sản ở Việt Nam có từ lâu đời, là nghề cha truyền con nối, ngư dân thường không có hoặc có rất ít ruộng đất ở trên bờ. Họ thường định cư tại các bến bãi, vũng, cửa lạch, cửa sông và một số eo, vịnh có đảo lớn che chắn để thuận tiện cho hoạt động sản xuất, hình thành nên các làng cá.

Đại bộ phận ngư dân nghèo, nghề cá quy mô nhỏ tập trung ở vùng ven biển, cửa sông, ven đảo, vùng bãi ngang... từ Bắc tới Nam. Các công trình phục vụ đời sống bản thân ngư dân thường nhỏ bé, thô sơ. Người dân thiếu nguồn nước sạch, nơi sinh sống thường thiếu hệ thống thoát nước, xử lý chất thải sinh hoạt, nguồn nước ăn bị ô nhiễm, giao thông không thuận tiện. Hệ thống trạm y tế còn mỏng và yếu, người dân phải chi phí rất tốn kém khi muốn đi bệnh viện tuyến trên.  Nhìn chung điều kiện y tế sức khỏe cộng đồng tại các làng cá còn thấp. Người dân thường mắc các bệnh: ngoài da, thiếu máu, đau mắt hột.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article