Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) gồm Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương thuộc vùng nội địa của khu vực, có diện tích nuôi trồng thuỷ sản khoảng 25.700 ha, sản lượng đạt khoảng 28.800 tấn. Vùng này ít bị tác động của bão lũ hơn so với vùng ven biển.

(1) Khu vực đồng bằng sông Hồng

Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) gồm Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương thuộc vùng nội địa của khu vực, có diện tích nuôi trồng thuỷ sản khoảng 25.700 ha, sản lượng đạt khoảng 28.800 tấn. Vùng này ít bị tác động của bão lũ hơn so với vùng ven biển.

Vùng ven biển của ĐBSH có 4 tỉnh, gồm Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, là những tỉnh có khả năng NTTS mặn lợ lớn hơn. Diện tích NTTS khoảng 52.300 ha, sản lượng đạt 123.400 tấn. Giá trị xuất khẩu thuỷ sản đạt trên 100 triệu USD.

Hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình hàng năm đổ ra biển khoảng 122 tỷ m3 nước và mang theo khoảng 120 triệu tấn phù sa tạo thành các bãi bồi ven biển ở các cửa sông lớn: Ba Lạt, Đáy, Ninh Cơ, lấn tiến ra biển hàng năm khoảng 30-70m, tạo ra các bãi bồi mới màu mỡ, đặc biệt thuận lợ cho phát triển NTTS nước lợ.

Khu vực ĐBSH có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của bão và gió mùa đông bắc. Bão làm các bãi bồi chưa ổn định bị biến dạng làm một số đoạn bị xói lở uy hiếp các tuyến đê kè, làm hư hại các công trình.

Tuy lượng nước mặt khá dồi dào nhưng phân bố không đều theo thời gian và không gian. Lưu lượng nước hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình về mùa lũ rất lớn nên độ mặn ở vùng ven bờ xuống thấp, biến đổi từ 4,2-13,5%o, nhiều khi xuống dưới 1%o ở các cửa sông. Đến mùa khô, độ mặn lại tăng lên đáng kể, đạt giá trị từ 11 đến 27%o.

Tài nguyên sinh vật cũng như sinh cảnh trong vùng khá phong phú. Khả năng phát triển NTTS vùng triều khoảng 58.000ha, bằng khoảng 9,54% diện tích tự nhiên toàn vùng. Vùng nước ngọt nội địa khoảng 126.000ha, bằng 8,48% diện tích tự nhiên toàn vùng. Ngoài ra còn có các vùng vịnh gió kín trên dọc bờ biển, với diện tích khoảng 39.700ha.

Khu hệ cá của hệ thống sông Hồng có 216 loài, trong đó tại vùng ĐBSH có trên 100 loài cư trú. Tại lưu vực sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ, sông Đào và vùng ruộng chiêm trũng có 95 loài.

(2) Khu vực đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có diện tích tự nhiên toàn vùng là 40.263 km2 (kể cả hải đảo) chiếm khoảng 12% diện tích tự nhiên của cả nước. ĐBSCL giống như một bán đảo với 3 hướng Đông, Nam và Tây Nam giáp biển Đông và Vịnh Thái Lan.

Tại khu vực, phân bố 25 cửa lạch lớn nhỏ, nhiều cửa khá sâu, kín gió cùng với hệ thống sông lớn ăn sâu vào nội đồng, thuận lợi cho tàu thuyền ra vào, trú đậu và lưu thông sâu vào đất liền.

ĐBSCL có nhiệt độ trung bình năm trên 26-270C. Nhiệt độ cao nhất đạt 400C và thấp nhất 14,80C. Chế độ nắng cao và ổn định, số giờ nắng trung bình cả năm 2.226-2.709 giờ.

Hằng năm, có khoảng 500 tỷ m3 nước đổ ra biển qua các cửa sông. Mùa lũ từ tháng 9-tháng 11, có đỉnh vào cuối tháng 9, đầu tháng 10. Nước lũ về tràn ngập đến trên 1/3 đồng bằng chủ yếu là vùng Đồng Tháp Mười và tứ giác Long Xuyên, có nơi ngập sâu đến 3 - 4m. Trong mùa cạn nước sông xuống thấp, lưu lượng nước sông thấp nhất đã đo chỉ đạt 1.250 m3/s, nước mặn có thể xâm nhập sâu vào đồng bằng có nơi đến 50 km. ĐBSCL có trữ lượng nước ngầm không lớn và được đánh giá khả năng khai thác ở mức 1 triệu m3/ngày đêm, chủ yếu phục vụ cấp nước sinh hoạt.

ĐBSCL có mạng lưới sông kênh rạch lớn nhỏ chi chít rất thuận lợi cung cấp nước ngọt quanh năm.

Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, khi này sông Mêkông là nguồn nước mặt duy nhất.

Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 2.400 mm ở vùng phía Tây ĐBSCL đến 1.300 mm ở vùng trung tâm và 1.600 mm ở vùng phía Đông.

Lũ thường xảy ra vào tháng 9, nước sông lớn gây ngập lụt. Lũ lụt hàng năm có nhiều tác hại cho sản xuất và sinh hoạt trong vùng nhưng đồng thời cũng mang lại nguồn phù sa và nguồn lợi thuỷ sản dồi dào.

Nhiều loài tôm cá ở ĐBSCL là những loài phụ thuộc vào cửa sông. Mô hình di cư và sinh sản của các loài này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ sông và thuỷ triều, phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện môi trường của các cửa sông.

Chế độ thuỷ văn của ĐBSCL có 3 đặc điểm nổi bật: Nước ngọt và lũ lụt vào mùa mưa. Nước mặn vào mùa khô ở vùng ven biển. Nước chua phèn vào mùa mưa ở vùng đất phèn.

Vùng ngập nư­ớc hàng năm ở ĐBSCL khoảng 1,4-1, 9 triệu ha với mức ngập sâu từ 1 m đến 4 m trong vòng từ 2 tháng đến 6 tháng. Các tỉnh chịu ảnh h­ưởng mạnh nhất là Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp và Long An. Sự suy giảm RNM và rừng Tràm để lấy đất NTTS đã nâng sản l­ượng NTTS và KTTS ở ĐBSCL tăng lên từ 464.000 tấn vào năm 1990 lên 819.000 tấn (1995) và 1, 318 triệu tấn vào năm 2002. Nguồn lợi thuỷ sản ĐBSCL đa dạng với 277 loài cá, trong đó 57 loài có giá trị kinh tế. Hiện nay, khai thác cá tôm tự nhiên hàng năm vào khoảng 50.000 tấn với các hình thức khai thác nh­ư  giăng l­ưới (49,1%), câu (27,1%), còn lại là khai thác bằng chất chà, đặt lợp, ch gom...Thời gian khai thác từ tháng 7 năm tr­ớc đến tháng 2 năm sau. Rộ nhất từ tháng 8 đến tháng 12. Thông th­ường cá tôm đánh bắt đ­ược ở m­ương, ao trong vư­ờn (34,7%), ruộng lúa (31,9%) và kênh m­ương công cộng (32,2%) không cần thả giống mà cá tôm ngoài tự nhiên vào. L­ượng cá tôm tự nhiên trong ruộng lúa có thể đạt 50-100 kg/ha/năm (Lê Xuân SinhL, 2005).

(3) Đặc điểm các hệ sinh thái thủy vực ven biển điển hình

-Hệ sinh thái rừng ngập mặn (RNM)

RNM có vai trò quan trọng đối với ngư dân và nghề cá. RNM cung cấp dinh dưỡng, nơi cư trú cho các loài thuỷ sản, cung cấp giống các loài thuỷ sản phục vụ nuôi trồng và khai thác. Sinh kế từ RNM, cũng như khả năng bảo vệ các hệ thống nuôi vùng cửa sông, ven biển, bảo vệ các công trình hạ tầng ven biển có đóng góp tích cực đối với đời sống cộng đồng người dân ven biển.

Ở duyên hải Bắc Bộ, RNM phân bố tập trung tại khu vực Móng Cái, Cửa Ông, Quảng Yên, Cát Hải, Tiên Lãng, Thái Thụy, Xuân Thuỷ... Ở Nam Bộ, RNM phát triển mạnh từ Vũng Tàu đến Hà Tiên, đặc thù là các rừng đước mũi Cà Mau, rừng bần cửa sông Tiền, sông Hậu... Theo thống kê, năm 1996, diện tích RNM là 290.000 ha. Đến 2001 diện tích RNM còn khoảng 155.290 ha.

Diện tích RNM liên tục giảm, từ 400.000 ha (trước 1945) xuống 253.000 ha năm 1983 và chỉ còn 73.300 ha vào năm 1993 (Nguyễn Thượng Hùng, 1995). Một phần diện tích RNM đã chuyển thành diện tích nuôi tôm. Suy giảm RNM đã làm mất nơi cư trú của thủy sinh vật có giá trị đối với nghề cá. Cần tiến hành việc phục hồi hệ sinh thái RNM bằng các biện pháp thích hợp, tạo điều kiện phát triển nghề khai thác, nuôi trồng thủy sản bền vững và tạo sinh kế phù hợp cho cộng đồng cư dân ven biển.

-Hệ sinh thái cửa sông

Việt Nam có 02 hệ thống cửa sông lớn, gắn với hai vùng đồng bằng rộng lớn của đất nước, đó là hệ thống cửa sông Hồng và hệ thống cửa sông Cửu Long, thuộc vùng Đồng bằng Bắc Bộ và ĐBSCL. Số lượng các cửa sông nhiều. Dọc theo bờ biển Hải Phòng-Thái Bình-Nam Định dài khoảng 200 km có tới 11 cửa, gồm Nam Triệu, Cấm, Lạch Tray, Văn Úc, Cửa Hoá (cửa Thái Bình), Diêm Điền, Trà Lý, Ba Lạt, Hà Lan, Lạch Giàng và Cửa Đáy. Dọc theo đoạn bờ biển dài khoảng 130 km từ nam Tiền Giang đến bắc Sóc Trăng có 9 cửa, gồm Tiểu Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiêm, Cung Hầu, Định An, Bát Sắc, Tranh Đề.

Đối với các tỉnh duyên hải miền Trung, từ Thanh Hoá đến Bình Thuận, do địa hình dốc, chia cắt mạnh nên mật độ các cửa sông rất cao, trung bình 18 km có 1 cửa. Đoạn bờ biển Nghệ An dài 84 km, nhưng có tới 6 cửa sông, gồm Lạch Cờn, Lạch Thơi, Lạch Quèn, Lạch Vạn, Cửa Lò và Cửa Hội. Nhìn chung, mỗi tỉnh có 2-3 cửa lớn đổ ra biển: Lạch Trào, Lạch Trường, Cửa Khẩu (Thanh Hoá); Cửa Lò, Cửa Hội (Nghệ An); Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu (Hà Tĩnh); Cửa Gianh, Cửa Nhật Lệ (Quảng Bình); Cửa Tùng, Cửa Việt (Quảng Trị); Cửa Thuận An (Huế); Cửa Hàn, Cửa Đại/sông Thu Bồn (Đà Nẵng - Quảng Nam); Cửa Cổ Luỹ/sông Trà Khúc, Cửa Trà Bồng/sông Trà Bồng (Quảng Ngãi); Cửa Lở/sông Vệ; Cửa Phú Lâm/sông Đà Rằng (Phú Yên); Cửa Nha Trang/sông Cái (Khánh Hoà); Cửa Đông Hải/sông Cái (Phan Rang); Cửa Cà Ty (Phan Thiết).

Đặc trưng của vùng cửa sông phụ thuộc vào tính chất lưu vực, tải lượng nước, bùn cát từ sông và đặc điểm động lực sóng, thuỷ triều ven bờ. Hệ thống sông Hồng chịu tác động mạnh của khối nước ngọt, do vậy vào mùa khô, đường đẳng muối 1‰ xâm nhập vào sông đến 21-22 km, còn vào mùa mưa, độ muối dao động từ 0,5-5‰

Hệ sinh thái cửa sông, nơi tiếp giáp giữa nước ngọt và nước biển, có đặc điểm là duy trì nguồn dinh dưỡng cao, đảm bảo sự phát triển phong phú về số lượng và sinh lượng của các loài thuỷ sinh vật, đồng thời là nơi nuôi dưỡng ấu trùng, con non, nơi đẻ trứng và sinh trưởng của nhiều loài thuỷ sinh vật có giá trị với nghề cá.

Các nghiên cứu khoa học công bố thời gian qua cho thấy, cửa sông Hồng có 185 loài thực vật phù du, cửa sông Bạch Đằng có 145 loài. Tỷ lệ thành phần loài theo các ngành như sau: ngành tảo silic Bacillariophyta chiếm 92,1%, ngành tảo giáp Pyrrophyta 4,13%, ngành tảo lục Chlorophyta 2,63%, ngành tảo lam Cyanophyta 1,1%. Về mùa mưa, cửa sông Hồng có 125 loài, cửa sông Bạch Đằng có 108 loài. Trong đó Bacillariophyta chiếm 74,1% tổng số, Chlorophyta 12,37%, Cyanophyta 11,43%, Pyrrophyta 2,1%. Động vật phù du vùng triều cửa sông miền Bắc có 104 loài. Vùng triều cửa sông và các đầm phá miền Trung có số loài dao động từ 25 đến 58 loài tại mỗi vùng, tổng cộng có khoảng 70 loài. Vùng triều cửa sông Đồng Nai có 53 loài. Vùng cửa sông Bạch Đằng có 17 loài rong biển, vùng cửa sông Hồng có 13 loài. Thống kê đến nay cho thấy, cửa sông Hồng có 34 loài thực vật ngập mặn, cửa sông Bạch Đằng 36 loài. Loài ưu thế vùng cửa sông Hồng là trang, sú. Loài chiếm ưu thế vùng cửa sông Bạch Đằng là trang, đước, vẹt. Động vật đáy trong hệ sinh thái vùng triều cửa sông dải ven bờ từ Việt Nam, từ Bắc, Trung đến Nam có khoảng 450 loài, thuộc các nhóm chính là giun nhiều tơ, giáp xác, thân mềm, tay cuốn và da gai.

Hệ sinh thái cửa sông là nơi phân bố của 4 nhóm cá, gồm nhóm cá biển, nhóm cá nước lợ cửa sông, nhóm cá nước ngọt và nhóm cá di cư. Nhóm cá biển chủ yếu gồm những loài cá biển thích nghi với điều kiện độ mặn từ 20 - 25‰, một số ít loài cá biển điển hình như cá mập, cá trích, cá thu… Nhóm cá nước lợ cửa sông thích ứng với độ mặn thấp và biến đổi của vùng cửa sông từ 5 – 20 ‰, với đại diện là cá đối, cá thòi lòi, cá bống, cá chẽm... Nhóm cá nước ngọt gồm đại diện là các loài thuộc họ Siluridae, Clariidae, Anabandidae, Cyprinidae. Nhóm cá di cư là các loài có quá trình sinh sản từ sông ra biển như cá trình, hoặc từ biển vào sông như cá mòi, cá cháy... Ước tính có khoảng 580 loài cá thuộc 109 họ và 27 bộ phân bố ở cửa sông. Trong đó khu hệ cá của sông Hồng có 233 loài, thuộc 71 họ.

-Hệ sinh thái đầm phá ven biển

Hệ sinh thái đầm phá phân bố chủ yếu ở ven biển miền Trung. Trung bình mỗi đầm phá có diện tích là 38,3 km2, chiều dài 15,11 km, chiều rộng 2,99 km, độ sâu 1,45 m, chiều dài cửa đầm là 2.410 m. Tuy nhiên, một số đầm phá có kích thước rất bé như đầm Nước Mặn (250 m), một số đầm có kích thước tương đối lớn như đầm Thuỷ Triều (6.300 m)-thuộc vào một trong những đầm có diện tích lớn nhất thế giới. Độ sâu trung bình cửa sông các đầm phá là 4,22 m, một số đầm có độ sâu cửa sông rất nông như các đầm Nước Mặn và đầm Ô Loan (1,5m).

Động thái môi trường đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam  thể hiện sự diễn biến phức tạp cả về cấu trúc và tính chất. Nghiên cứu của Viện Tài nguyên và Môi trường biển cho thấy, mặc dù hầu hết các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước và trầm tích có nồng độ thấp hơn so với tiêu chuẩn của Việt Nam, các nước Đông Nam Á, tổ chức Y tế Thế giới, Ý, Canada, Mỹ; nhưng mức độ gia tăng một số chất hữu cơ bền vững trong trầm tích đáy  từ 20-30 năm trở lại đây gia tăng đáng kể. Ngoài ra nồng độ dầu, nitrate, coliform trong nước ở một số điểm cục bộ cao hơn giới hạn cho phép.

Phá Tam Giang: Dài 26 km, rộng 2-3,5 km, độ sâu trung bình 1,61 m.

Đầm Cầu Hai: Chiều ngang trung bình 7-10 km. Độ sâu trung bình 1,41 m. Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai  thuộc loại thuỷ vực gần kín, nước lợ và lợ nhạt. Các sông đổ vào hệ đầm phá này gồm sông Ô Lâu, sông Hương, sông Đại Giang, sông Nông, sông Truồi và sông Cầu Hai. Có 815 loài sinh vật đã được ghi nhận ở hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, trong đó thực vật phù du có 221 loài, thực vật nhỏ sống đáy 54 loài, rong tảo 47 loài, cỏ nước nhạt 12 loài, cỏ biển 7 loài, thực vật ngập mặn 7 loài, động vật phù du 66 loài, giun nhiều tơ 12 loài, giáp xác 46 loài, thân mềm 40 loài, cá 230 loài và chim 73 loài. Đây là vùng rất phát triển về nuôi trồng thuỷ sản và sử dụng nguồn lợi từ đầm phục vụ cộng đồng địa phương.

Đầm Thị Nại: Dài 15,6 km, nằm ở tỉnh Bình Định. Phía Tây Bắc đầm là cửa sông Côn, phía Tây Nam là cửa Hà Thanh, phía Nam là cửa biển Quy Nhơn, vì vậy đầm còn mang tính chất của một vịnh biển. Kết quả thống kê năm 2004 ghi nhận đầm Thị Nại có 741 loài thuỷ sinh vật, trong đó có 185 loài thực vật phù du, 128 loài rong biển, 5 loài cỏ biển, 25 loài thực vật ngập mặn, 58 loài động vật phù du, 191 loài động vật đáy, 116 loài cá và 33 loài chim.

Đầm Cù Mông: Trải dài qua nhiều xã thuộc huyện Sông Cầu tỉnh Phú Yên. Theo số liệu hiện có thành phần khu hệ sinh vật đầm Cù Mông-vịnh Xuân Đài gồm 45 loài cá, 28 loài rong, 21 loài thân mềm, 35 loài giáp xác, 7 loài da gai, 7 loài cỏ biển.

Đầm Ô Loan: Nằm trong vị trí 5 xã thuộc huyện Tuy An. Đầm nhận nước sông Phường Lụa và sông Gò Duối, thông với biển qua cửa Tân Quy. Số liệu hiện tại về thành phần khu hệ  ghi nhận có 335 loài, gồm có 100 loài thực vật phù du, 33 loài rong và thực vật thuỷ sinh bậc cao, 58 loài động vật phù du, 70 loài động vật đáy, 71 loài cá và 3 loài cỏ biển.

Đầm Thuỷ Triều: Nằm phía Bắc vịnh Cam Ranh, chạy dài theo hướng Bắc Nam với chiều dài 17,5 km qua 7 xã: Cam Hải Đông, Cam Hoà, Cam Hải Tây, Cam Đức, Cam Thành Nam, Cam Nghĩa. Đầm thông với vịnh Cam Ranh qua eo Mỹ Ca. Số liệu thống kê về thành phần loài của khu hệ này tổng số có 598 loài, trong đó TVPD có 112 loài, 91 loài ĐVPD, 7 loài cỏ biển, 58 loài rong phụ sinh trên lá cỏ biển, 151 loài rong sống đáy, 22 loài TVNM, 37 loài thân mềm, 20 loài giáp xác, 12 loài da gai và 88 loài cá.

Đầm Nại: Nằm phía Đông Bắc thị xã Phan Rang- Tháp Chàm thuộc địa phận huyện Ninh Hải tỉnh Ninh Thuận. Bao quanh đầm có thị trấn Khánh Hải và 4 xã Tân Hải, Hộ Hải, Tri Hải và Phương Hải. Đầm có hình dạng kiểu lòng chảo, diện tích khoảng 8 km2. Thành phần khu hệ sinh vật của Đầm Nại ghi nhận  được 312 loài, gồm 125 loài TVPD, 36 loài rong và thực vật thuỷ sinh bậc cao, 25 loài ĐVPD, 81 loài động vật đáy, 3 loài cỏ biển và 2 loài cá.

-Hệ sinh thái cồn cát ven biển

Hệ sinh thái cồn cát ven biển có quy mô phân bố rất lớn, kéo dài dọc vùng ven biển từ Thanh Hoá đến Bình Thuận. Đất cát gồm 3 nhóm chủ yếu là đất cồn cát vàng trắng (220.000 ha) tập trung chủ yếu ở miền Trung từ Quảng Bình đến Bình Thuận, đất cồn cát đỏ (77.000 ha) ở Bình Thuận, đất cát biển 234.000 ha.

Ở miền Trung, đất cát tập trung chủ yếu ở các tỉnh từ Quảng Bình đến Bình Thuận. Riêng ở Quảng Bình diện tích đất cát đồi chiếm trên 100.000 ha. Đất cát, cát giữ ẩm kém, nghèo dinh dưỡng. Diện tích các cồn cát, đụn cát hay bãi cát ven biển trung bộ được che phủ bởi các thảm thực vật chiếm 40-50%, phủ bởi rừng trồng hoặc cây công nghiệp chiếm khoảng 10%, diện tích hoang hoá chiếm khoảng 30-35%, khoảng 5% diện tích phục vụ cho mục đích du lịch, bến tàu thuyền đánh bắt hải sản.

Các dải đất cát ở Trung Bộ thuộc loại nghèo dinh dưỡng, nhưng nhờ phát triển nuôi trồng thủy sản đã mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao hơn trước và cũng cao hơn so với chuyển đổi sang những loại hình canh tác nông nghiệp khác.

Đã thống kê được 353 loài thực vật, 50 loài thú hoang dại ở vùng sinh thái cồn cát ven biển.

- Hệ sinh thái rạn san hô

Vùng biển Việt Nam có khoảng 1.122 km2 rạn san hô với khoảng 400 loài san hô cứng thuộc 80 giống, trong đó có 74 giống san hô tạo rạn. Hệ sinh thái rạn san hô phân bố rộng khắp từ Bắc vào Nam, nhưng tập trung ở khu vực ven bờ biển miền Trung, vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa. Khu vực Côn Đảo ghi nhận trên 300 loài san hô tạo rạn. Vùng biển tây Nam bộ có 63 giống, vùng vịnh Bắc Bộ có 53 giống. Quần xã sinh vật rạn có gần 1000 loài động vật không xương sống. Trong đó, động vật thân mềm đa dạng nhất với 446 loài, giáp xác 251 loài, giun nhiều tơ 176 loài, da gai 96 loài. Đã ghi nhận 411 loài cá rạn san hô thuộc 139 giống và 44 họ.

Rạn san hô có năng suất sinh học cao và cung cấp các sản phẩm có giá trị thực phẩm, mỹ phẩm, dược liệu ...

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article