Việt Nam có tổng diện tích đất liền là 331.690 km2, có vùng biển rộng lớn với bờ biển dài 3.260 km trải dài 13 vĩ độ và vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu km2. Khí hậu nước ta thuộc vùng nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á. Do vị trí địa lý, điều kiện địa hình, khí hậu, thuỷ văn,... Việt Nam rất đa dạng các hệ sinh thái thủy vực ven biển.

(1) Khu vực Vịnh Bắc Bộ

Vùng biển Vịnh Bắc Bộ giới hạn từ vĩ độ 17000N đến 21040N và 105040E đến 109040E, kéo dài từ Quảng Ninh đến Quảng Trị.

Vịnh nằm ở phía tây bắc biển Đông, ba mặt được bao bọc bởi đất liền. Phía tây là lục địa Việt Nam và Trung Quốc. Phía Đông Bắc là bán đảo Lôi Châu và phía đông là đảo Hải Nam. Diện tích toàn vịnh khoảng 126.250km2 (36.000 hải lý vuông). Chiều ngang của vịnh nơi rộng nhất khoảng 310 km (176 hải lý), nơi hẹp nhất ở cửa vịnh rộng khoảng 220 km (119 hải lý). Chiều dài bờ biển phía Việt Nam khoảng 763 km, phía Trung Quốc khoảng 695 km.

Vùng biển vịnh Bắc Bộ phía Việt Nam là vùng biển nông, đáy biển tương đối bằng phẳng, có 2 vịnh kín là vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long. Độ sâu vịnh Bắc Bộ không lớn, trung bình 38,5m, sâu nhất không quá 100m.

Vùng biển vịnh Bắc Bộ được phân chia làm 2 khu vực:

- Khu vực từ Quảng Ninh đến Ninh Bình: từ Móng Cái đến Đồ Sơn bờ biển chạy theo hướng Đông Bắc-Tây Nam, địa hình chia cắt mạnh, phức tạp. Phần vịnh phía Việt Nam có khoảng 2.300 đảo đá ven bờ, trong đó có 26 đảo lớn. Quan trọng hơn cả là quần đảo Cát Bà với tổng diện tích 34.531 ha và quần đảo Cô Tô với tổng diện tích 3.850 ha. đảo Bạch Long Vĩ là đảo lớn hơn cả nằm cách đất liền Việt Nam khoảng 110km, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 130km. Phần ven lục địa, đáy biển bằng phẳng, thường có các bãi triều, rừng ngập mặn. Chất đáy vùng biển Móng Cái là bùn nhuyễn, vùng ngang khu vực Cửa Ông-Hòn Gai là cát nhỏ lẫn vỏ sò, đá sỏi, ven bờ từ cửa Bạch Đằng đến Ninh Bình là bùn phù sa. Vùng quanh các đảo có nhiều rạn đá với tổng diện tích khoảng 260 km2, trong đó tập trung nhiều nhất ở Quảng Ninh.

- Khu vực từ Ninh Bình đến Quảng Trị: Bờ biển chạy theo hướng gần Bắc-Nam. Bờ cát thoải dạng vòng cung. Phía ngoài bờ rải rác có các đảo đá phiến, đá hoa cương nhu Hòn Nẹ, Hòn Mê, Hòn Mắt, Hòn La, Hòn Nồm. Đường đẳng sâu 20m chạy cách bờ 3 - 5 km, nhiều nơi chạy sát chân các mũi đá nhô ra. Khu vực này thích hợp với các loài hải sản ưa sống vùng cát, hang hốc và san hô.

Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm khu vực ven bờ lớn hơn 220C. Mùa hè, nhiệt độ trung bình lớn nhất xuất hiện vào tháng 6-7, đạt giá trị từ 27-290C, nhiệt độ cao nhất lên tới 42,20C. Mùa đông, nhiệt độ không khí trung bình nhỏ nhất từ 15-170C, nhiệt độ thấp nhất có thể xuống tới 4-60C. Nhiệt độ biến đổi theo vĩ độ, phía nam cao, phía bắc thấp.

Đối với nước biển tầng mặt vịnh Bắc Bộ, nhiệt độ bình quân thấp nhất vào tháng 2 (19,50C) và nước ấm dần lên đến tháng 8 đạt cực đại (bình quân 29,50C). Xu thế biến đổi tương tự cũng thấy ở nước tầng đáy, thấp nhất vào tháng 2 là 160C và cao nhất là tháng 8 là 270C. Sự thay đổi lớn về nhiệt độ nước biển giữa mùa đông và mùa hè dẫn đến hiện tượng di cư của các đàn cá: từ tháng 4 đến tháng 11 là vụ cá Nam, vào thời gian này các đàn cá nổi di cư vào khu vực gần bờ để sinh sản như cá Trích, cá Cơm, cá Lầm... Vụ cá Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, khi này các đàn cá có xu hướng di chuyển ra xa bờ kiếm ăn và trú đông như cá Trích, cá Cơm, cá Lầm, cá Thu, cá Ngừ... , khi này nhiệt độ nước biển tầng đáy ấm hơn tầng mặt cho nên các đàn cá di chuyển xuống tầng nước sâu gần đáy và tập trung với mật độ dày, rất thuận lợi cho nghề lưới kéo, lưới vây. Do đó sản lượng khai thác xa vụ cá Bắc cao hơn vụ cá Nam.

Lượng mưa trung bình hàng năm ở vịnh Bắc Bộ là 1.077mm. Mưa lớn vào các tháng 7-9 và mưa ít vào các tháng 12-2.

Vùng biển từ Quảng Ninh đến Thanh Hoá, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, lượng mưa khoảng 1.800-2.000mm với số ngày mưa trong năm khoảng 140-150 ngày. Vùng biển từ Nghệ An đến Quảng Trị mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 và kết thúc vào tháng 12 hoặc tháng Giêng năm sau, lượng mưa khoảng 2.200-2.400mm và số ngày mưa trong năm khoảng 140-145 ngày.

Vùng khơi Vịnh Bắc Bộ, tổng lượng mưa trong năm vào khoảng 1.500-1.800mm, số ngày mưa cả năm từ 100-120 ngày. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 9 với tổng lượng mưa khoảng 1.000-1.500mm, chiếm khoảng 2/3 tổng lượng mưa trong năm. Trong mùa mưa, mỗi tháng có từ 12-15 ngày mưa, lượng mưa trung bình 200-250mm/tháng.

Mùa bão từ tháng 5 đến tháng 11, tập trung vào tháng 7, 8, 9. Vùng biển Vịnh Bắc Bộ chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới hình thành từ biển Đông và Thái Bình Dương. Trong hơn 120 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ vào miền Bắc 40 năm gần đây có 32 cơn đổ bộ vào Hải Phòng, Quảng Ninh (chiếm 24,1%), 65 cơn đổ bộ vào Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh (chiếm 51,4%).

Vịnh Bắc Bộ chịu ảnh hưởng khá mạnh của các đợt gió mùa đông bắc kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mỗi đợt gió mùa thường kéo dài từ 5-7 ngày, gây ra biển động, sóng lớn. Thời kỳ giao thoa giữa hai mùa gió, vào khoảng tháng 4-6 biển  êm, thuận lợi cho nghề khai thác đặc biệt là các nghề như vây, vó, mành... nhưng trong thời kỳ này trên biển cũng thường xuất hiện những cơn dông cục bộ gây ra gió mạnh, gió xoáy, rất nguy hiểm cho tàu đánh cá.

Vùng biển từ Quảng Ninh đến Ninh Bình thuộc chế độ nhật triều không đều với biên độ triều lớn khoảng 3-4 m. Khu vực Thanh Hoá thuộc chế độ nhật triều không đều, biên độ thuỷ triều kỳ nước cường trung bình là 2,6m. Khu vực Nghệ An có chế độ nhật triều không đều với biên độ lúc triều cường trung bình từ 2,9-3m. Khu vực từ Quảng Bình đến Quảng Trị thuộc chế độ bán nhật triều không đều, hầu hết các ngày trong tháng đều có hai lần nước lớn và hai lần nước ròng, biên độ thuỷ triều thường đạt 0,8-1,7m.

Do ảnh hưởng của gió mùa nên hải lưu vịnh Bắc Bộ cũng biến đổi theo mùa rõ rệt. Về mùa đông (tháng 12-2), hướng dòng chảy là ngược chiều kim đồng hồ, được hình thành do nước biển phía Nam chảy theo cửa vịnh men theo bờ tây đảo Hải Nam lên phía Bắc, cùng nhập với dòng nước từ biển Đông chảy qua eo biển Quỳnh Châu vào vịnh, sau đó chảy men theo bờ tây xuống phía nam và ra ngoài vịnh. Vùng ven bờ dòng chảy có hướng Đông Bắc - Tây Nam, vùng khơi ngang Hải Phòng có bộ phận nước tách ra chảy theo hướng Bắc -  Nam  rồi sang Đông - Nam sau đó chảy quanh đảo Bạch Long Vĩ tạo nên vùng nước trồi, là ngư trường lớn trong mùa này. Về mùa hạ (tháng 6 - 8), hướng dòng chảy hầu như ngược lại mùa đông, tức thuận chiều kim đồng hồ. Hình thành do dòng nước chảy vào vịnh men theo bờ Tây vịnh chảy lên phía Bắc và quay theo bờ tây đảo Hải Nam rồi chảy ra khỏi vịnh. Về mùa xuân (tháng 3 - 5), nước từ biển phía Nam chảy qua cửa vịnh phân làm hai nhánh: một nhánh đâm thẳng vào bờ tây vịnh khu vực Nam Định-Thanh Hoá, nhánh kia men theo bờ tây đảo Hải Nam chảy lên phía bắc và cùng nhập với dòng nước từ biển Đông qua eo Quỳnh Châu. Dòng này lại chia làm hai nhánh, một nhánh men theo bờ Tây chảy xuống phía Nam và ra khỏi vịnh, nhánh thứ hai chảy theo phía Đông hình thành một dòng chảy vòng ngược chiều kim đồng hồ ở phía Bắc vịnh. Về mùa thu (tháng 9 - 11), nước từ biển phía Nam chảy vào vịnh lên phía Bắc, gần như song song với bờ Tây đảo Hải Nam, sau đó nhập với dòng nước từ biển Đông và tiếp tục chảy lên phía Bắc rồi chuyển hướng chảy về phía Nam đến vĩ độ 19­000N tách ra một nhánh chảy theo hướng Đông hình thành một dòng nước chảy vòng ngược chiều kim đồng hồ.

(2) Vùng biển miền Trung

Địa hình miền Trung hẹp, độ dốc lớn, có nhiều sông ngắn chảy ra biển, tạo ra vùng ven bờ biển bị chia cắt mạnh và số lượng lớn cửa sông kiểu hình phễu. Hệ sinh thái đầm phá cũng đặc trưng đối với khu vực này. Tuy không đặc trưng chung cho duyên hải miền Trung, nhưng tại đây cũng phân bố một vài cửa sông lớn, như tại vùng phía bắc Thanh Hóa.

Cá nổi nhỏ có trữ lượng khoảng 595.000 tấn, khả năng khai thác khoảng 238.000 tấn. Trong các tháng 3, 4, 5 thường gặp các đàn cá nổi nhỏ ở vĩ độ 110N-130N và 1090-109,450E. Hiện nay, thống kê được 44 loài thuộc 26 giống, 11 họ, trong đó một số loài chiếm ưu thế là cá Bò da (Aluterus monoceros) cá Nục đỏ đuôi (Decapterus kurroides), cá Nục sồ (Decapterus maruadsi), cá Cơm thường (Stolephorus commersoni), cá Chim đen (Parastromatus niger)...

Cá đáy có trữ lượng khoảng 592.150 tấn và khả năng khai thác khoảng 296.075 tấn. Theo công bố năm 2004 và 2005, gặp 452 loài thuộc 130 họ, trong đó đáng kể là các họ cá Sơn phát sáng (Acronomatidae), họ cá Liệt (Leiognathidae), họ cá Mối (Synodontidae), họ cá Khế (Carangidae).

(3) Vùng biển Đông Nam Bộ

Nguồn lợi hải sản gần bờ không lớn, chủ yếu tập trung ở vùng cửa sông, bãi bồi ven biển, trong đó quan trọng nhất là bãi cá quanh Côn Sơn và cửa sông Cửu Long. Với 639 loài thuộc 148 họ cá tầng đáy và 50 loài thuộc 35 giống, 10 họ cá nổi nhỏ. Nhóm cá nổi nhỏ có trữ lượng 770.800 tấn và khả năng khai thác 308.300 tấn. Một số loài có sản lượng cao gồm cá Nục đỏ đuôi (Decapterus kuroides), cá Nục sồ (Decapterus maruadsi), cá Nục thuôn (Decapterus lajang), cá Bò da (Aluterus monoceros), cá Ngân (Atule mate), cá Chỉ vàng (Selaroides leptolepis), cá Bạc má (Rastrelliger kanagurta), cá Tráo mắt to (Selar crumenophthalmus). Nhóm cá đáy với trữ lượng 304.850 tấn và khả năng khai thác khoảng 152.425 tấn, trong đó phải kể đến họ cá Lượng (Nemipteridae), họ cá Mối (Synodontidae), họ cá Khế (Carangidae). Một số cá ít giá trị kinh tế nhưng tỷ trọng ngày càng tăng như cá Liệt (Leignathidae), cá Sơn (Apogonidae).

(4) Vùng biển Tây Nam Bộ

Vùng biển Tây Nam Bộ là nơi phân bố của 430 loài cá thuộc 111 họ. Về thành phần loài không phong phú bằng vùng biển Đông Nam bộ. Nhóm cá nổi có trữ lượng khoảng 945.000 tấn và khả năng khai thác 378.000 tấn, với 59 loài thuộc 21 giống 10 họ, trong đó những loài chiếm ưu thế như cá Khế vây lưng đen (Alepes melanoptera), cá Bò da (Aluterus monoceros), cá Ngân (Atule mate), cá Khế mala (Carangoides malabaricus), cá Trích lầm (Dussumiaria elopsoides), cá Lưỡi búa (Mene maculata), cá Trích xương (Sardinella fimbriata), cá Tráo mắt to (Selar crumenophthalmus), cá Chỉ vàng (Selaroides leptolepis)… Nhóm cá đáy có trữ lượng khoảng 123.992 tấn và khả năng khai thác khoảng 61.996 tấn, với 371 loài thuộc 101 họ trong đó phải kể đến họ cá Khế (Caragidae), họ cá Đù (Sciaenidae), họ cá Lượng (Nemipteridae).

Vùng kinh tế đặc quyền có diện tích khoảng 360.000 km2. Có 50 đảo lớn, nhỏ trong đó một số đảo có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế kết hợp giữ gìn quốc phòng, an ninh như Phú Quốc, Thổ Chu, Hòn Khoai, Hòn Tre,... Dải ven biển của ĐBSCL có chiều dài trên 730 km, chiếm 23% chiều dài bờ biển của Việt Nam.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article