Mặc dù khó có thể xác định chính xác được khoản chi phí đầu tư nào cho ngành nông nghiệp là để phục vụ cho công tác giảm thiếu tác động của BĐKH.

Mặc dù khó có thể xác định chính xác được khoản chi phí đầu tư nào cho ngành nông nghiệp là để phục vụ cho công tác giảm thiếu tác động của BĐKH. Tuy nhiên, việc tăng cường đầu tư cho nghiên cứu, cho phát triển ngành trong điều kiện BĐKH được coi là tìm kiếm các giải pháp nhằm duy trì và phát triển sản lượng nông nghiệp khi có những thay đổi bất lợi đối với sản xuất nông nghiệp (WB, 2009). Trên thực tế, nhà nước đã tăng cường công tác đầu tư cho nghiên cứu, chọn tạo và phát triển các giống cây trồng phù hợp hơn với từng điều kiện sinh thái đặc thù như giống chịu mặn, giống chịu ngập, chịu hạn, các giải pháp canh tác tổng hợp, biện pháp kỹ thuật mới để thích ứng với điều kiện thay đổi của môi trường do tác động của tự nhiên và hoạt động của con người. Do đó, nếu coi các chi phí đầu tư cho ngành nhằm tăng cường khả năng thích ứng với điều kiện môi trường và thời tiết thay đổi cũng là quan điểm phù hợp và xuất phát từ yêu cầu thực tế.

Cũng như các ngành kinh tế khác, để duy trì và phát triển sản lượng nông nghiệp trong điều kiện BĐKH, nhà nước phải đầu tư kinh phí cho các nghiên cứu phát triển các giống cây trồng mới để thích ứng với các điều kiện bất thuận. Về lĩnh vực này, hàng năm Bộ Nông nghiệp và PTNT được nhà nước đầu tư trung bình 11.24 ngàn tỷ đồng/năm giai đoạn 2001-2008, chiếm 6.96% tổng vốn đầu tư của nhà nước và chiếm 5.72% GDP nông nghiệp (Bảng 2.7).

Bảng 2.7. Đầu tư của nhà nước cho ngành nông nghiệp giai đoạn 2000-2008 (1000 tỷ đồng)

Năm

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

1. GDP

481.30

535.76

613.44

715.31

839.21

974.27

1,143.7

1,477.7

2.  GDP nông nghiệp

111.86

123.38

138.29

155.99

175.98

198.80

232.59

326.51

3. Tổng đầu tư

101.97

114.74

126.56

139.83

161.64

185.10

197.99

174.44

4. Đầu tư cho NN

9.21

9.43

10.96

9.81

11.59

12.63

13.41

12.88

- Nông lâm

8.25

8.50

9.92

9.32

11.02

11.94

12.65

12.11

- Thủy sản

0.96

0.93

1.04

0.49

0.57

0.69

0.76

0.77

5. Lĩnh vực kinh tế khác

92.77

105.31

88.45

130.02

150.05

172.47

184.58

161.56

6. Tỷ lệ đầu tư NN/ Tổng đầu tư (%)

8.09

7.41

7.83

6.67

6.82

6.45

6.39

6.94

7. Tỷ lệ đầu tư NN/GDP nông nghiệp

7.38

6.89

7.17

5.98

6.26

6.01

5.44

3.71

Nguồn: GSO, 2009

Mặc dù, chiếm tỷ trọng không cao trong tổng mức đầu tư quốc dân, nhưng kết quả Hình 2.2 lại cho thấy đầu tư cho nông nghiệp được duy trì và tăng ổn định trong giai đoạn 2001-2008. Kết quả này cho thấy để phát triển sản xuất nông nghiệp, duy trì sản lượng trong điều kiện BĐKH nhà nước đã tăng lượng đầu tư cho nông nghiệp.

Hình 2.2. Diễn biến mức đầu tư cho nông nghiệp trong điều kiện BĐKH, 2001-2008

Trong điều kiện BĐKH, tăng đầu tư của nhà nước cho nông nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nông nghiệp thích ứng với các điều kiện bất thuận như các công trình chống úng, chống lụt, chống hạn và các chương trình cải tiến về giống, quy trình thâm canh,…Về khía cạnh kinh tế, tăng đầu tư cũng có nghĩa là tăng chi phí cho một đơn vị sản phẩm đầu ra. Do vậy, nếu tăng chi phí đầu tư cho ngành nông nghiệp nhằm thích ứng và giảm thiểu tác động của BĐKH cũng được coi là nguyên nhân dẫn đến tăng chi phí sản xuất đối với các loại cây trồng. Tuy nhiên, cần phải có những đánh giá chi tiết hơn để xác định khả năng tăng chi phí do tăng đầu tư đối với từng lĩnh vực, từng loại cây trồng và từng vùng, tiểu vùng sinh thái.

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article