Thiên tai gây ra những thiệt hại to lớn đối với nền kinh tế của nước ta. Bão gây thiệt hại cho ngư dân đánh bắt cá trên biển, tàn phá các cơ sở nuôi trồng thuỷ sản, tàn phá hệ thống đê ngăn mặn đưa nước mặn xâm nhập vào đồng ruộng và các khu vực dân cư ven biển, gió mạnh của bão gây thiệt hại về nhà cửa, công trình, cây trái và mùa màng nhất là vùng đồng bằng sông Hồng và Miền Trung.

(1) Thiệt hại do thiên tai, hạn hán, lũ lụt

Thiên tai gây ra những thiệt hại to lớn đối với nền kinh tế của nư­ớc ta. Bão gây thiệt hại cho  ng­ư dân đánh bắt cá trên biển, tàn phá các cơ sở nuôi trồng thuỷ sản, tàn phá hệ thống đê ngăn mặn đư­a nư­ớc mặn xâm nhập vào đồng ruộng và các khu vực dân cư­ ven biển, gió mạnh của bão gây thiệt hại về nhà cửa, công trình, cây trái và mùa màng nhất là vùng đồng bằng sông Hồng và Miền Trung. Trong những năm gần đây bão ảnh h­ưởng đến những vùng vĩ độ thấp, đặc biệt là cơn bão số 5 đổ bộ vào vào Nam bộ đầu tháng 11 năm 1997 đã gây nhiều thiệt hại cho ngư­ dân vùng ngư­ trư­ờng rộng lớn phía Nam, nơi tr­ước đây ít chịu ảnh hư­ởng của bão.

Lũ trong các sông lớn luôn là sứp ép đối với trên 3000 km đê sông ở miền Trung, đe doạ ngập lụt, tàn phá các khu dân c­ư, các vùng kinh tế quan trọng của đất n­ước. Trên hệ thống đê sông Hồng ở Bắc Bộ và sông Cửu Long ở nam Bộ lũ đe doạ gây ngập lụt hàng triệu ha đất canh tác, ảnh h­ưởng đến cuộc sống của hàng triệu ng­ười dân. Những trận lụt năm 1945, 1969, 1971, 1986, 1996 ở trên hệ thống sông Hồng, các năm 1961, 1966, 1978, 1984, 1995, 1996 ở đồng bằng sông Cửu Long thực sự là các thiên tai mang tính quốc gia. Những thiệt hại do bão, lũ gây ra ở Việt Nam trong hơn hai thập kỷ qua (theo tài liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn). Thực tế cho thấy thiệt hại lớn nhất từ tr­ước đến nay là do bão, lũ gây ra năm 1996, sau đó là năm 1994 , 1986 và năm 1995, 1998, 2000 ( hầu hết những năm này đều thiệt hại trên 100 triệu USD.

Kết qủa thống kê  số lượng  bão tăng qua các năm, nhưng điều đáng chú ý hơn là bão giai đoạn 1990-2008 thường đến muộn hơn. Nếu như giai đoạn 1950-1960, bão thường đổ bộ vào Việt nam vào tháng 8 thì giai đoạn 1990-2000 bão lại thường xuất hiện tháng 10, 11 Kết quả thống kê cũng cho thấy, cường độ bão ngày càng mạnh hơn và kéo theo nhiều hiểm họa sau bão. Nếu những năm trước thập kỷ 90, bão mạnh nhất chỉ ở cấp 12, giật trên cấp 12, nhưng những năm gần đây đã xuất hiện siêu bão cấp 13 và giật tới cấp 15. Kết hợp với các thiên tai khác, hàng năm ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung chịu thiệt hại nặng nề do hậu quả của bão và hiện tượng thời tiết cực đoan.

Bảng 2.2. Thiệt hại do thiên tai đối với nông nghiệp tại Việt Nam (1995-2007)

Năm

Lĩnh vực nông nghiệp

Tất cả các lĩnh vực

(%)[1]

Triệu đồng

Triệu US$

Triệu đồng

Triệu US$

1995

58.369,0

4,2

1.,129.434,0

82,1

5,2

1996

2.463.861,0

178,5

7.798.410,0

565,1

31,6

1997

1.729.283,0

124,4

7.730.047,0

556,1

22,4

1998

285.216,0

20,4

1.797.249,0

128,4

15,9

1999

564.119,0

40,3

5.427.139,0

387,7

10,4

2000

468,239.0

32,2

5.098.371,0

350,2

9,2

2001

79.485,0

5,5

3.370.222,0

231,5

2,4

2006

954.690,0

61,2

18.565.661,0

1.190,1

5,1

2007

432.615,0

27,7

11.513.916,0

738,1

3,8

Thiệt hại TB/năm

781.764,11

54,9

6.936.716,6

469,9

11,6

Cơ cấu thiệt hại trong GDP (%)

0.67

-

1.24

 

 

Nguồn: Tổng hợp từ nguồn của MARD, 1995-2007

Kết quả Bảng 2.2 cho thấy thiệt hại do thiên tai của ngành nông nghiệp nước ta trung bình năm trong giai đoạn 1995-2007 là 781.74 tỷ đồng tương đương 54,9 triệu đô la Mỹ. Thiệt hại do thiên tai trung bình năm đối với sản xuất nông nghiệp chiếm 0.67% giá trị GDP ngành, trong khi tổng thiệt hại tất cả các ngành chiếm 1,24%. Kết quả này cho thấy cơ cấu thiệt hại do thiên tai trong giá trị ngành nông nghiệp thấp hơn so với cơ cấu tổng thiệt hại trong GDP. Tuy nhiên, do giá trị nông nghiệp chiếm tỷ trọng thấp trong GDP và lại là nguồn sống của trên 71, 41% dân số, do vậy bất cứ thiệt hại nào do thiên tai đối với nông nghiệp sẽ mang tổn thương nhiều hơn đối với nông dân nghèo và khả năng phục hồi sẽ khó khăn vì cần có thời gian dài hơn.

Cơ cấu thiệt hại trong nông nghiệp đối với tổng thiệt hại do thiên tai của tất cả các ngành có xu hướng giảm trong giai đoạn 1996-2007. Kết quả phân tích tại Hình 2.1 cho thấy thiệt hại thiên tai cho tất cả các lĩnh vực ngày càng tăng nhưng thiệt hại đối với nông nghiệp có xu hướng giảm. Ví dụ năm 1996, thiệt hại của ngành nông nghiệp tương đương 2.463 tỷ đồng (31.6% tổng thiệt hại) thì đến năm 2007 chỉ còn 432 tỷ đồng tương đương 3.8%. Kết quả này cho thấy đây là dấu hiệu đáng mừng của ngành nông nghiệp trong việc duy trì và áp dụng các biện pháp phòng chống thiên tai bởi lẽ cơ cấu của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế chỉ giảm nhẹ, 22.27% năm 1995 xuống 18,14% năm 2008 (giảm 0,6% năm).

Hình 2.1. Diễn biến thiệt hại do thiên tai của ngành nông nghiệp giai đoạn 1993-2007

(2).Đánh giá tác động của khí hậu đến năng suất cây trồng.

Để xác định được năng suất cây trồng do khí hậu thời tiết tạo nên một cách chính xác hơn các tác giả đã dùng phương pháp trọng lượng điều hoà với bước trượt là 3 để xác định năng suất xu thế. Năng suất xu thế là năng suất do tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp tạo nên (hay còn gọi là năng suất do con người tác động). Ưu thế của phương pháp này để xác định năng suất xu thế là những quan trắc sau có giá trị ngoại suy năng suất hơn các quan trắc trước đó.

Độ lệch giữa năng suất thực với năng suất xu thế là năng suất do khí hậu tạo nên tức là:

DYTT = YT - YXT ; (2.1)

Trong đó:        DYTT - Năng suất do biến động khí hậu (tạ/ha)

YT        - Năng suất thực thu (tạ/ha)

YXT      - Năng suất xu thế (tạ/ha)

Đối với lúa đông xuân:

Ở các tỉnh miền núi Tây Bắc (Lai Châu) năng suất do dao động khí hậu ít hơn so với các tỉnh thuộc khu vực Trung Du, đồng bằng Bắc bộ, Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ và Nam bộ. Năng suất lúa đông xuân dao động lớn nhất là ở các tỉnh đồng bằng bắc bộ (dao động ± 7 tạ/ha) sau đó là đến các tỉnh Bắc Trung bộ và Nam Trung bộ.

Đối với lúa mùa:

Ở các tỉnh miền núi Tây Bắc (Lai Châu) năng suất lúa mùa do dao động khí hậu tác động mạnh từ năm 1970 về trước và sau năm 1989. Năng suất do khí hậu tạo nên dao động mạnh mẽ ở các tỉnh Trung du và đồng bằng Bắc bộ, đặc biệt dao động rất mạnh từ năm 1985, 1986 trở lại đây (mức độ dao động từ ± 3 - ±5 tạ/ha) và các tỉnh ven biển miền trung mức độ dao động ít hơn. Năng suất khí hậu dao động từ ±1 - ±5 tạ/ha. Các tỉnh Nam bộ năng suất do khí hậu tạo nên dao động từ ±0.5 - ±2 tạ/ha.

Đánh giá sự dao động sản lượng cà phê, cao su, chè do khí hậu tạo nên.

Cũng như các cây ngắn ngày để đánh giá tác động khí hậu đến sản lượng cây dài ngày trước tiên cũng phải tách năng suất sản lượng ra làm 2 phần do con người có khả năng tác động và phần do khí hậu tạo nên.

- Độ lệch năng suất sản lượng thực thu và xu thế là phần sản lượng do khí hậu tạo nên. Rõ ràng qua các số liệu tích luỹ cho thấy sản lượng cà phê do khí hậu tạo nên biến động mạnh mẽ từ năm 1988 lại đây. Điều đó chứng tỏ với kỹ thuật canh tác thâm canh càng cao thì tác động của khí hậu lên năng suất sản lượng càng lớn. Và ngược lại với trình độ thâm canh thấp tác động của khí hậu đến sản lượng sẽ thấp.

- Tương tự như cà phê là sản lượng cao su ở Đông Nam bộ sự tạo nên sản lượng cao su do khí hậu được thể hiện rõ từ 1991 trở lại đây.

- Đối với cây chè thì sản lượng chịu tác động của khí hậu rõ ràng hơn so với sản lượng cao su và cà phê

Mối quan hệ giữa năng suất cây trồng với các yếu tố khí hậu trong mùa sinh trưởng.

Để loại trừ bớt ảnh hưởng của các nhiễu động khác lên năng suất cây trồng chúng tôi đã tính tương quan giữa độ lệch năng suất giữa năm sau so với năm trước với độ lệch nhiệt độ, lượng mưa, số giờ nắng của năm sau so với năm trước tương ứng.

Dựa vào những mối quan hệ trên ta có thể xây dựng được phương trình tương quan để tính  năng suất cây trồng cho từng vụ và từng vùng trên cơ sở phương trình cơ bản:

Yt+1 = Yt + DY        ; (2.2)     

Trong đó: Yt+1 - Năng suất lúa đông xuân hoặc mùa (tạ/ha) của vụ cần tính.

             Yt -  Năng suất vụ trước.

            DY - Năng suất do các yếu tố khí hậu thời tiết tạo nên.

Kết quả xây dựng phương trình tính năng suất do thời tiết khí hậu (DY) đối với lúa được nêu trong bảng 2.3, đối với ngô bảng 2.4, đối với lạc bảng 2.5, đối với đậu tương bảng 2.6.

Từ kết quả tính toán trên dựa vào kịch bản biến đổi các yếu tố khí hậu như nhiệt độ trung bình, lượng mưa và số giờ nắng của các tháng tương ứng có thể biết được năng suất cây trồng ở các vùng cần xem xét nghiên cứu.

Bảng 2.3.  Phương trình tính toán độ biến động năng suất lúa

Vùng

Vụ Đông Xuân

 

Đồng bằng Bắc Bộ

DY=0.714 -  2.422DTIII  + 0.024DRII + 0.020DSXI

R=0.686

Trung du Bắc Bộ

DY=0.451 - 1.156DTIII + 0.095DRII + 0.041DSIV

R=0.708

Tây Bắc

DY=1.049 + 0.437DTXII + 0.013DRIII - 0.007DSIII

R=0.569

Nam Trung Bộ

DY=1.030 - 0.826DTXI + 0.018DRII + 0.011DSI

R=0.404

Nam Bộ

DY=0.708 + 1.095DTII + 0.296DRII - 0.042DSXII

R=0.471

 

Vụ Mùa

 

Đồng bằng Bắc Bộ

DY=0.159 + 3.406DTVII  - 0.002DRVII + 0.002DSV

R=0.644

Trung du Bắc Bộ

DY=0.397 - 2.034DTVIII - 0.010DRX + 0.008DSVII

R=0.607

Tây Bắc

DY=0.065 + 2.021DTVII - 0.001DRVI - 0.004DSVIII

R=0.587

Nam Trung Bộ

DY=0.221 + 2.144DTX - 0.020DRV - 0.023DSVII

R=0.843

Nam Bộ

DY=0.851 - 0.613DTVII + 0.011DRVII - 0.106DSVI

R=0.655

 

Bảng 2.4.  Phương trình tính toán độ biến động năng suất ngô (DY)

Vùng

Các phương trình

Hệ số t.quan

Tây Bắc

DY = -0,363 DT5  - 0,010 DS10  - 0,014D R1 + 0,284

R = 0,56

Đ.B. sông Hồng

DY = -1,110DT4 + 0,036DS4 + 0,009DR3 + 0,664

R = 0,65

Đông Bắc

DY = -0,067DT7 - 0,012DS7 - 0,007DR6 + 0,943

R = 0,72

Bắc Trung bộ

DY = -0,688DT8 - 0,008DS5 + 0,024DR2 + 0,867

R = 0,49

Nam Trung bộ

DY = -5,555DT6 - 0,054DS2 + 0,030DR8 + 2,066

R = 0,62

Tây nguyên

DY= 0,175DT12 + 0,045DS1 + 0,004DR7 + 1,008

R = 0,60

Đ.B.sông Mê Kông

DY = 2,592DT4 - 0,157DS9 - 0,342DR2 + 2,335

R = 0,71

 

Bảng 2.5.  Phương trình tính toán độ biến động năng suất lạc (DY)

Vùng

Các phương trình

Hệ số t.quan

Tây Bắc

DY = -0,165DT9 + 0,006DS2  - 0,001DR7 + 0,100

R = 0,61

Đ.B. sông Hồng

DY = 0,767DT10 - 0,021DS2 - 0,043DR12 + 0,790

R = 0,79

Đông Bắc

DY = -0,277DT8 - 0,010DS4 + 0,009DR3 + 0,409

R = 0,54

Bắc Trung bộ

DY = -0,025DT3 + 0,027DS1 + 0,016DR4 + 0,324

R = 0,68

Nam Trung bộ

DY = -2,220DT8 - 0,010DS7 - 0,035DR7 + 1,119

R = 0,62

Tây nguyên

DY= -0,002DT11 + 0,017DS11 - 0,002DR11 + 0,349

R = 0,56

Đ.B.sông Mê Kông

DY = 1,375DT7  - 0,008DS11 + 0,004DR11 + 0,367

R = 0,63

 

Bảng 2.6.  Phương trình tính toán độ biến động năng suất đậu tương (DY)

Vùng

Các phương trình

Hệ số t.quan.

Tây Bắc

DY = -0,177DT10 + 0,001DS8 - 0,002DR3 + 0,256

R = 0,46

Đ.B. sông Hồng

DY= -0,416DT12 + 0,018DS6 + 0,004DR9 + 0,720

R = 0,58

Đông Bắc

DY = 0,437DT6 + 0,013DS5 - 0,00016DR9 + 0,458

R = 0,59

Bắc Trung bộ

DY= 1,047DT8 + 0,018DS4 - 0,002DR7 + 0,454

R = 0,74

Tây nguyên

DY = -0,857DT9 - 0,010DS9 + 0,008DR9 + 0,562

R = 0,76

Đ.B.sông Mê Kông

DY= -0,270DT5 - 0,029DS1 + 0,002DR11 + 0,608

R = 0,76



[1] % T l thit hi ca ngành nông nghip so vi tng thit hi ca nn kinh tế quc dân

Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article