Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đứng trước các biến đổi khó dự đoán nhất trong lịch sử kiến tạo, nhất là các thay đổi về chế độ thủy văn và sụt lún đất. Những biến đổi này được dự báo sẽ tác động sớm và mạnh đến nhiều lĩnh vực, đặc biệt là nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Trước thực tế đó, ngày 17-11-2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu. Riêng với ngành nông nghiệp, Nghị quyết nhấn mạnh đến việc phát triển nông nghiệp bền vững, gắn liền với cơ cấu lại ngành nông nghiệp trên các lĩnh vực: sản xuất, thủy lợi, đê điều, chuyển đổi ngành nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn…

Bài 1: Những hướng đi phù hợp

Thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) đã xây dựng Chương trình tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) vùng ĐBSCL đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Những kết quả đạt được sau hơn một năm triển khai đã cho thấy nỗ lực của từng địa phương cũng như hướng đi đúng đắn của toàn ngành nông nghiệp.

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi

Theo Nghị quyết 120, ngành nông nghiệp sẽ chú trọng vào công tác rà soát, điều chỉnh chiến lược, định hướng quy hoạch phát triển nông nghiệp toàn vùng ĐBSCL; hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ cao, công nghệ sinh học trong nông nghiệp; xây dựng các cơ chế, chính sách mới, mang tính đột phá nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, hiện đại; quy hoạch thủy lợi phòng, chống thiên tai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; xây dựng đề án bảo vệ bờ biển, củng cố nâng cấp hệ thống đê biển, phòng, chống xói lở bờ biển…

Nhìn từ các địa phương, qua hơn một năm triển khai Nghị quyết 120, tỉnh Bến Tre đã đạt được nhiều kết quả khả quan, trong đó, việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi thích ứng BĐKH thực hiện khá tốt. Giám đốc Sở NN và PTNT Bến Tre Bùi Văn Lâm cho biết: Ngành nông nghiệp đã tham mưu cho tỉnh điều chỉnh quy hoạch cấp nước, quy hoạch nuôi trồng thủy sản, quy hoạch sử dụng đất tích hợp cùng quy hoạch của tỉnh. Đồng thời, ngành nông nghiệp sắp xếp, triển khai quy hoạch ở ba vùng sinh thái gồm: mặn, lợ, ngọt. Hiện nay, diện tích canh tác lúa giảm 10 nghìn ha để chuyển sang nuôi thủy sản ở vùng mặn, trồng các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn như: dừa, cây ăn trái, rau màu, cỏ... Qua đó, giúp sản xuất nông nghiệp chuyển đổi cơ cấu theo hướng nâng cao giá trị, phát triển bền vững. Hiện tại, nhiều địa phương ở huyện Giồng Trôm như: Hưng Nhượng, Châu Bình, Tân Thanh… có sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng khá lớn. Tại xã Châu Bình, diện tích lúa hiện chỉ còn 185 ha, giảm hơn 70 ha so với năm 2018. Tính chung trong toàn huyện, năm 2014 có khoảng 4.500 ha lúa thì hiện nay chỉ còn 2.200 ha.


 

Sản xuất dưa lưới công nghệ cao.

Tỉnh Tiền Giang cũng thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên nền đất lúa với diện tích hơn 12.900 ha, trong đó, chuyển sang cây ăn quả 9.850 ha. Cụ thể, thanh long, bưởi da xanh cho lợi nhuận cao gấp 10 lần trồng lúa, lợi nhuận từ cây sầu riêng có thể lên đến một tỷ đồng/ha/năm, gấp 18 lần trồng lúa. Từ đó, hình thành vùng sản xuất liên kết, tập trung. Điều đáng nói là việc chuyển đổi cây trồng giúp cải thiện môi trường canh tác do áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, tiết kiệm nước so với trồng lúa, tránh thiệt hại do thiên tai gây ra.

Vào thăm vùng chuyên canh cây thanh long của HTX Kiểng Phước Gò Công tại xã Kiểng Phước, huyện Gò Công Đông, ít ai ngờ rằng chỉ mấy năm trước, đây là vùng đất khô cằn, sản xuất bấp bênh do bị nhiễm mặn khá nặng. Giám đốc HTX Kiểng Phước Gò Công Võ Văn Ra cho hay: Hiện, vùng chuyên canh thanh long ruột đỏ rộng hơn 30 ha của 30 hộ dân tham gia HTX đã bắt đầu cho quả. Trong vụ đầu, lợi nhuận từ thanh long ruột đỏ khoảng 100 triệu đồng/ha. Đến nay, diện tích lúa chuyển đổi sang trồng thanh long tại xã Kiểng Phước đã hơn 80 ha và sẽ còn tiếp tục được mở rộng. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang Phạm Anh Tuấn cho biết: “Sau đợt hạn mặn năm 2016, tỉnh đã khảo sát, đánh giá diện tích lúa chết do nhiễm mặn ở khu vực phía đông, từ đó xây dựng đề án chuyển đổi cây trồng. Nhiều diện tích lúa đã chuyển đổi hẳn sang trồng cây ăn quả và cho những thành công bước đầu. Riêng khu vực trồng cây ăn quả trọng điểm ở phía tây tỉnh cũng đã được đầu tư các dự án đê bao, cống để ngăn triều cường, xâm nhập mặn.

Không chỉ với cây trồng, thực hiện định hướng quy hoạch phát triển nông nghiệp toàn vùng ĐBSCL, thủy sản cũng là một ngành chủ lực được quan tâm gắn với thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ cao, công nghệ sinh học vào sản xuất. Tại tỉnh Bạc Liêu, dự án khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phát triển tôm đang thực hiện phân khu trung tâm với diện tích ban đầu hơn 103 ha. Đây là hạt nhân chính của toàn khu, được Nhà nước đầu tư hạ tầng kỹ thuật, sau đó kêu gọi doanh nghiệp chuyển giao ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. Khu nông nghiệp này hướng tới mục tiêu làm hạt nhân tác động, dẫn dắt và nhân rộng các mô hình nuôi tôm công nghệ cao của tỉnh, vùng bán đảo Cà Mau, ĐBSCL, đồng thời làm nòng cốt, động lực để xây dựng Bạc Liêu trở thành trung tâm ngành công nghiệp tôm của cả nước.

Bên cạnh đó, đây là trung tâm liên kết với các viện, trường, các doanh nghiệp, tạo thành một chuỗi phức hợp từ khâu nghiên cứu sản xuất tôm bố mẹ, tôm giống, đến các khâu nuôi tôm siêu thâm canh, sản xuất chế biến, bảo quản tôm; nghiên cứu sản xuất thức ăn cho tôm… Trong khi đó, để thích ứng BĐKH, tỉnh An Giang cũng đã hình thành một số mô hình sinh kế mùa nước nổi được Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) hỗ trợ thực hiện thí điểm tại hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn. Ngoài ra, Tổ chức Hợp tác phát triển Đức (GIZ) hỗ trợ làm mô hình nuôi tôm càng xanh vùng ngập nước đầu nguồn huyện An Phú...

Rà soát quy hoạch thủy lợi, phòng chống thiên tai

Để phát triển bền vững ĐBSCL, việc rà soát quy hoạch thủy lợi, phòng chống thiên tai là yêu cầu cấp thiết, bảo đảm giảm nhẹ thiệt hại khi có thiên tai và chủ động ứng phó các kịch bản BĐKH bất lợi nhất. Thực tế những năm qua, nhiều địa phương đã chịu thiệt hại nghiêm trọng do sạt lở. Theo thống kê, từ năm 2013 đến nay, sạt lở bờ biển xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre đã xóa sổ 110 ha đất sản xuất của người dân, trong đó, khu vực bị ảnh hưởng trực tiếp khoảng 9,5 km với 97 hộ dân đang sinh sống, khiến nhiều hộ dân bị mất đất, mất nhà. Trước tình hình này, tỉnh đã tập trung triển khai các dự án từ vốn hỗ trợ của Trung ương, vốn ODA như: thích ứng BĐKH vùng ĐBSCL tại Bến Tre (vốn IFAD); hệ thống thủy lợi bắc Bến Tre, hệ thống thủy lợi nam Bến Tre, dự án quản lý nước tỉnh Bến Tre (JICA3); dự án cung cấp nước cho dân cư khu vực Cù Lao Minh trong điều kiện BĐKH và nước biển dâng; các dự án xử lý sạt lở cấp bách bờ sông, bờ biển Bến Tre... với tổng số vốn đầu tư lên đến hàng nghìn tỷ đồng.

Chủ tịch UBND huyện Thạnh Phú Đào Công Thương cho biết: Hiện trên địa bàn huyện có 33 km đê bao dọc sông Cổ Chiên và Hàm Luông với 10 cống lớn, nhỏ phục vụ trữ nước ngọt, ngăn mặn cho chín xã của tiểu vùng một để trồng dừa và sản xuất lúa. Mặc dù có hệ thống đê bao nhưng hằng năm, nước mặn vẫn từ huyện Mỏ Cày Nam theo sông Cái Quao chảy ngược về huyện Thạnh Phú. Khi đó, một số vùng sẽ bị ảnh hưởng bởi nước mặn xâm nhập. Thời gian tới, khi thực hiện dự án quản lý nước Bến Tre, dự án thủy lợi nam Bến Tre sẽ giúp khép kín hoàn toàn, nhằm ngăn mặn, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp tại địa phương.

Cùng với Bến Tre, những năm gần đây, tình hình BĐKH diễn biến hết sức phức tạp tại Bạc Liêu. Theo Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu Dương Thành Trung, thời gian qua, do mực nước biển dâng trung bình 3,34 mm/năm kết hợp với sụt lún khoảng 7,28 mm/năm, gây ngập tăng tổng cộng 10,62 mm/năm, kết hợp với triều cường, nhất là các đợt triều cường dâng cao đã làm nước kênh Bạc Liêu - Cà Mau tràn qua quốc lộ 1A, ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân. Trong khi đó, tuyến đê Biển Đông đã xuống cấp nghiêm trọng, nhất là một số đoạn thuộc TP Bạc Liêu và hai huyện Hòa Bình và Đông Hải, cho nên không còn khả năng ngăn nước khi thủy triều dâng cao.

Trước thực tế đó, tỉnh đã và đang triển khai các dự án về ứng phó BĐKH với tổng kinh phí hơn 20 nghìn tỷ đồng. Hiện 16 dự án giai đoạn 2012 - 2020, với nguồn kinh phí hơn 3.000 tỷ đồng đang được thực hiện, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tác động của BĐKH, nhất là nước biển dâng như: tiểu dự án nâng cấp tuyến đê Biển Đông, tiểu dự án kè chống sạt lở khu vực cửa biển Nhà Mát, TP Bạc Liêu, tiểu dự án thí điểm “đê mềm” để gây bồi tạo bãi khôi phục rừng phòng hộ ven biển khu vực cửa biển Nhà Mát (TP Bạc Liêu).

Đánh giá chung về tình hình thực hiện Nghị quyết 120 thời gian qua, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường nhận định: Triển khai Nghị quyết 120, Bộ NN và PTNT đã chủ động xây dựng Chương trình tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững thích ứng với BĐKH vùng ĐBSCL đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Bộ đã ban hành và tham gia xây dựng một loạt chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp nói chung, trong đó có ĐBSCL.

Hiện nay, Bộ cũng đang tham gia phối hợp sửa đổi Luật Đất đai để thúc đẩy tập trung đất nông nghiệp và chủ trì sửa đổi Nghị định 35/2015/NĐ-CP về quản lý sử dụng đất trồng lúa. Ngoài ra, Bộ tiếp tục đẩy mạnh dự án chuyển đổi nông nghiệp bền vững, dự án chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững ĐBSCL do WB tài trợ. Cộng hưởng hiệu quả của các chính sách trước đó, ĐBSCL đã từng bước hình thành các vùng chuyên canh các nông sản chủ lực, cơ cấu sản xuất chuyển dịch tích cực theo định hướng thị trường, thích ứng hơn với BĐKH, bảo đảm chất lượng và năng lực cạnh tranh. Cơ cấu sản xuất chuyển dịch theo hướng tăng thủy sản, tăng trái cây, tăng chăn nuôi và giảm dần lúa.

Bài 2: Cần sự vào cuộc quyết liệt

Theo dự báo, hậu quả của biến đổi khí hậu (BĐKH) tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có thể đến nhanh hơn và gây thiệt hại lớn hơn so với các kịch bản đã đưa ra. Trong khi đó, việc triển khai thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng BĐKH trên thực tế cũng phải đối mặt không ít khó khăn và thách thức, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt và tận tâm hơn nữa của các cấp, các ngành cũng như người dân vùng châu thổ.

Nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long thích ứng biến đổi khí hậu (Tiếp theo và hết) (*)

Sạt lở bờ biển tại xã Thạnh Hải, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Thách thức trên nhiều lĩnh vực

“Xoay trục chiến lược theo thứ tự ưu tiên phát triển sang thủy sản - trái cây - lúa gạo, đưa ĐBSCL thành vùng cung ứng các mặt hàng chủ lực này cho thế giới, làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững, nông thôn an toàn, thịnh vượng, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao” là một trong những định hướng được nêu ra trong Chương trình tổng thể phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH. Chiến lược này phù hợp với tiến trình chuyển đổi cây trồng, vật nuôi thực tế hiện nay ở các địa phương, song nó cũng đang bộc lộ những vướng mắc cần sớm giải quyết.

Trước hết, đó là vấn đề thị trường tiêu thụ. Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang Cao Văn Hóa cho biết: Khó khăn nhất hiện nay trong việc phát triển vùng cây ăn quả ứng phó BĐKH là việc liên kết tiêu thụ tại các vùng chuyển đổi chưa thật bền vững, nhất là liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp khá mong manh, khiến người dân vẫn phải chịu cảnh “mất mùa được giá, được mùa mất giá”. Ngoài ra, hạ tầng vùng chuyển đổi dù được đầu tư nhưng chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa bằng phương tiện tải trọng lớn của các đơn vị thu mua. Doanh nghiệp phải trung chuyển hàng hóa bằng nhiều phương tiện cho nên rất tốn kém, khiến họ nản lòng.

Trong khi đó, trên địa bàn tỉnh, các cơ sở chế biến sâu rất ít và quy mô còn nhỏ. Mặc dù tỉnh đã kêu gọi đầu tư và có những cơ chế ưu đãi nhưng chưa thu hút được nhà đầu tư. Ngoài ra, với yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm thì việc ứng dụng đồng bộ khoa học kỹ thuật, tăng diện tích sản xuất trái cây theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế. Do đó, hướng đi của Tiền Giang trong chuyển đổi cây trồng thích ứng BĐKH rất thuận lòng dân nhưng vẫn còn nhiều trăn trở làm thế nào để việc chuyển đổi nhân rộng được và cho hiệu quả bền vững.

Đây cũng là vướng mắc chính trong quá trình thực hiện chuyển đổi cây trồng thích ứng BĐKH ở hầu hết các tỉnh ĐBSCL, khi hạ tầng cơ sở giao thông nông thôn chưa đồng bộ, chưa đủ điều kiện để phục vụ vận chuyển sản xuất hàng hóa lớn. Mặt khác cũng chưa hình thành được nhiều vùng cây ăn quả quy mô lớn để thuận tiện cho việc áp dụng khoa học - kỹ thuật, cũng như tạo ra sản phẩm đồng đều không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà quan trọng hơn là hướng tới xuất khẩu.

Cây thanh long mang lại hiệu quả cao trên vùng đất mặn ở khu vực Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

Cùng với trái cây, mục tiêu đưa thủy sản trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của vùng, có quy mô lớn, hiện đại, sức cạnh tranh cao và bền vững cũng gặp những thách thức không nhỏ. Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu Trịnh Hoài Thanh nhìn nhận: Việc triển khai xây dựng Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phát triển tôm Bạc Liêu hiện đang gặp rất nhiều khó khăn do liên quan mặt bằng xây dựng. Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều hộ dân lấn chiếm đất ven biển để canh tác nuôi trồng thủy sản cho nên cũng chưa bàn giao được mặt bằng. Do vậy, cần sớm có biện pháp tháo gỡ để đẩy nhanh tiến độ xây dựng, mời gọi các doanh nghiệp đầu tư làm chuỗi sản xuất khép kín cho ngành tôm, tạo ra sản phẩm bảo đảm tiêu chuẩn phục vụ xuất khẩu với quy mô và sản lượng lớn. Khi thực hiện được những yêu cầu đó thì khu nông nghiệp này được kỳ vọng sẽ đáp ứng tốt nhất chiến lược “xoay trục”, đưa thủy sản, trong đó có ngành sản xuất và chế biến tôm trở thành ngành mũi nhọn của tỉnh Bạc Liêu, đóng góp phần quan trọng vào mục tiêu xuất khẩu tôm cả nước đạt 10 tỷ USD vào năm 2025.

Bên cạnh thách thức trong chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, thực trạng sạt lở bờ sông, bờ biển cũng mới chỉ xử lý được một phần, trong khi dự báo những năm tới còn diễn biến phức tạp, đe dọa nghiêm trọng đến đời sống và sản xuất của người dân. Theo báo cáo của Tổng cục Phòng, chống thiên tai, hiện còn 552 điểm sạt lở bờ sông, bờ biển, trong đó có 47 điểm sạt lở đặc biệt nguy hiểm chưa có kế hoạch bố trí kinh phí xử lý. Trong khi đó, công tác thủy lợi cũng còn quá nhiều việc phải làm như: Quy hoạch thủy lợi vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; xây dựng đề án hiện đại hóa hệ thống thủy lợi phục vụ chuyển đổi, phát triển nông nghiệp bền vững vùng ĐBSCL… nhằm đưa ra được những giải pháp công trình và phi công trình phục vụ cấp nước, tiêu thoát nước, kiểm soát lũ, phòng, chống ngập úng, thiên tai. Đó là những khối lượng công việc lớn, đòi hỏi sự nỗ lực cao độ của ngành nông nghiệp và các địa phương.

Đổi mới tư duy, nhận thức

Năm 2018, ĐBSCL đứng đầu cả nước về sản lượng lúa, tôm, cá tra và trái cây. Tuy nhiên, dự báo thời gian tới, BĐKH diễn ra ngày càng phức tạp, gây thiệt hại lớn hơn, sẽ khiến nông nghiệp toàn vùng không còn trù phú, việc cải thiện sinh kế và tạo việc làm cho nông dân trở nên khó khăn hơn. Trong khi đó, cơ cấu phát triển kinh tế hiện tại cũng không còn phù hợp. Cụ thể là hệ thống canh tác nông nghiệp cả trồng trọt và thủy sản đều chưa kịp thích ứng các biến đổi của lũ và hạn mặn cho nên đã chịu nhiều thiệt hại. Hệ thống giao thông, thương mại, hậu cần chưa theo kịp, thậm chí còn cản trở thương mại hàng hóa lớn. Các ngành công nghiệp chậm phát triển, chưa hỗ trợ cho thế mạnh nông nghiệp toàn vùng. Tình hình sạt lở bờ sông, bờ biển diễn ra nhiều và nhanh hơn cũng khiến đời sống dân cư chịu nhiều rủi ro cả về tính mạng và tài sản. Từ đó kéo theo hệ lụy là không ít nông dân đã phải bỏ xứ ra đi vì sinh kế không thay đổi kịp với biến động bất lợi về điều kiện tự nhiên và thị trường.

Trước những khó khăn, thách thức đó, Viện trưởng Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn Nguyễn Đỗ Anh Tuấn cho rằng: “Nếu không có hành động tích cực, phù hợp với quy luật tự nhiên sẽ rất khó đảo ngược những chiều hướng tiêu cực do BĐKH gây ra tại ĐBSCL. Chính vì vậy, việc kịp thời ban hành Nghị quyết 120 cho thấy tầm nhìn, sự nhạy bén và quyết tâm cao của Chính phủ để đưa ĐBSCL bước vào trạng thái cân bằng mới, phát triển bền vững và hiệu quả hơn, tiếp tục khẳng định và phát huy tiềm năng trở thành vùng nông nghiệp giàu có của cả nước, của khu vực và thế giới. Tuy nhiên, muốn mục tiêu đó trở thành hiện thực, cần bảo đảm sẵn sàng các điều kiện để nông dân và các thành phần kinh tế khác chuyển đổi mô hình sản xuất và sinh kế. Theo đó, cần ưu tiên tạo đột phá trong phát triển chế biến và thương mại hóa chuỗi giá trị nông nghiệp; trong nghiên cứu ứng dụng khoa học - công nghệ cần giải quyết ba khâu yếu kém nhất là: giống, thức ăn và chế biến để phục vụ các nhóm sản phẩm chủ lực như trái cây, thủy sản, chăn nuôi. Tăng cường thâm canh bền vững, giảm đến mức thấp nhất việc sử dụng vật tư nông nghiệp, bảo vệ môi trường, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Đồng thời phát triển các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật cho vùng chuyên canh, các cụm, khu công nghiệp chế biến, các hệ thống thương mại hậu cần… để kết nối thị trường. Bên cạnh trục chiến lược thủy sản - trái cây - lúa gạo, cần phát triển các ngành hàng khác theo Chương trình mỗi làng xã một sản phẩm (OCOP) để đa dạng hóa hệ thống sản xuất, nâng cao thu nhập và phát triển ĐBSCL thành vùng du lịch nông nghiệp, sinh thái đặc thù.

Về định hướng chung phát triển nông nghiệp ĐBSCL những năm tới, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh: “Định hướng phát triển bền vững ĐBSCL sẽ dựa trên biến động về nguồn nước, tính thích nghi với BĐKH, đất đai và nhu cầu thị trường, các ngành hàng chiến lược được phân thành vùng ổn định, vùng chuyển đổi và vùng linh hoạt. Sau mỗi chu kỳ 10 năm sẽ tiến hành đánh giá lại để có các điều chỉnh phù hợp. Theo đó, phát triển thích ứng và thuận thiên, tập trung xử lý các yếu tố nội tại, cùng với tài nguyên, con người, tiến bộ khoa học - công nghệ, biến nguy cơ thành thời cơ. Phát triển nông nghiệp ĐBSCL gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới để phối hợp nguồn lực và phát triển toàn diện mọi mặt của sản xuất nông nghiệp và đời sống nông thôn”.

Có thể thấy, để phát triển bền vững ĐBSCL cần có sự đổi mới trong tư duy, nhận thức, sẵn sàng năng lực ứng phó, năng lực chuyển đổi của cả hệ thống chính trị và người dân trước những bất thuận của BĐKH. Đó là thay đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp; từ tư duy sản xuất nhỏ lẻ, manh mún sang phối hợp liên kết giữa các chủ thể, giữa các ngành, các địa phương trong vùng và ngoài vùng; từ tư duy tập trung vào tăng trưởng theo số lượng sang chất lượng và giá trị theo nhu cầu thị trường; từ tư duy nặng về cung lúa gạo bằng mọi giá sang tư duy về an ninh dinh dưỡng và lợi nhuận cho người sản xuất; từ tư duy phát triển thủy lợi chỉ tập trung bảo đảm nước ngọt cho sản xuất lúa gạo sang tư duy phát triển thủy lợi đa chức năng cho cả các cây trồng, vật nuôi nước mặn lợ... Có như vậy, chúng ta mới có thể chuyển từ việc ứng phó bị động với BĐKH sang chủ động thích ứng một cách “thuận thiên”.

Giai đoạn 2016 - 2020, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định đầu tư tại vùng ĐBSCL tổng số vốn khoảng 28.200 tỷ đồng, chiếm khoảng 29% tổng vốn của Bộ quản lý. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước: 861 tỷ đồng; vốn ODA: 17.766 tỷ đồng; vốn trái phiếu Chính phủ: 5.877 tỷ đồng; vốn xử lý cấp bách sạt lở bờ sông: 2.500 tỷ đồng; vốn dự phòng đầu tư công 2016 - 2020 : 400 tỷ đồng. Một số công trình, dự án lớn trong giai đoạn 2016 - 2020 là: Dự án chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững ĐBSCL WB9 (tổng mức đầu tư 8.577 tỷ đồng vốn vay WB); dự án quản lý nước Bến Tre JiCa3 (tổng mức đầu tư 6.191 tỷ đồng, vốn vay Nhật Bản); Dự án Chuyển đổi nông nghiệp bền vững VnSat (tổng mức đầu tư 6.472 tỷ đồng, vốn vay WB); dự án hệ thống thủy lợi Bắc Bến Tre (giai đoạn 1) (tổng mức đầu tư là 2.123 tỷ đồng, vốn trái phiếu Chính phủ); dự án hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé, giai đoạn 1 (tổng mức đầu tư là 3.309 tỷ đồng, vốn trái phiếu Chính phủ)…

BÀI, ẢNH: ÁNH TUYẾT, HOÀNG TRUNG VÀ TUẤN DUY (https://www.nhandan.com.vn)
Trở về đầu trang
Print: Print this Article Email: Print this Article Share: Share this Article
  Gửi ý kiến phản hồi
287